Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/DS-ST

Ngày 23/8/2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản

và mượn tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hồng Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Thành Thái.
  • 2/ Bà Lê Thị Vân Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Phương Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 197/2024/TLST-DS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và mượn tài sản” Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 67/2024/QĐST - DS ngày 29 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công Ty TNHH S (nay là Công ty Cổ Phần S1 Có Ngay);

Địa chỉ trụ sở chính: A N, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông KANOKWATPAISAL NAPAT, chức vụ: Giám đốc Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, chức vụ: nhân viên Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay - theo giấy ủy quyền số 232/2023/UQ-SVN ngày 25/10/2023 (có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Minh M, sinh năm 2000; Địa chỉ cư trú: số nhà I, ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày như sau:

Ngày 16 tháng 12 năm 2022 ông Trần Minh M có ký kết hợp đồng cầm cố tài sản số KGM 221201007NA22X với Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay (gọi tắt là Công ty)/Chi nhánh Kiên Giang để lấy số tiền 23.100.000đồng, thời hạn cầm cố là 24 tháng, lãi suất thỏa thuận 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ theo tháng, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 16/01/2023.

Tài sản cầm cố là 01 chiếc xe mô tô hai bánh mang biển kiểm soát số 68D1-812.15; Loại xe: HONDA Future viet 125cc Fi; Màu: trắng đen; Số khung: RLHJC7659NY169790; Số máy: JC90E0366400; Số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000431 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 đứng tên Trần Minh M.

Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký kết với ông Trần Minh M giấy cho mượn lại xe, trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 16/12/2022 đến ngày 16/12/2023 địa điểm trả xe là tại Chi nhánh K 01 - Công ty TNHH S ông Trần Minh M có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Trần Minh M chưa thanh toán nợ đúng nghĩa vụ theo hợp đồng với Công ty, đến nay hợp đồng đã quá hạn ông Trần Minh M không trả nợ và cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Vì vậy Công ty đã khởi kiện ông M tại Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất yêu cầu giải quyết, buộc ông Trần Minh M phải trả cho Công ty số tiền là 44.330.000đồng (trong đó gốc 23.100.000đồng, lãi trong hạn 3.811.500đồng, lãi quá hạn 5.290.527đồng, phí bảo dưỡng và hao mòn xe 10.395.000đồng, phí theo dõi 1.732.500đồng và phí thanh lý trước hạn 679.501đồng).

Trường hợp ông Trần Minh M không thanh toán được số tiền trên, buộc ông M phải thực hiện nghĩa vụ giao trả lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát số 68D1-812.15; Loại xe: HONDA Future viet 125cc Fi; Màu: trắng đen; Số khung: RLHJC7659NY169790; Số máy: JC90E0366400; Số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000431 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 đứng tên Trần Minh M.

Tại phiên tòa, đại diện của Công ty ông Nguyễn Văn T rút yêu cầu tính phí theo dõi 1.732.500đồng, phí thanh lý trước hạn 679.501đồng và buộc ông M phải thực hiện nghĩa vụ giao trả lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát số 68D1-812.15;

yêu cầu ông Trần Minh M phải trả cho Công ty số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 23/8/2024 ông M còn nợ Công ty số tiền là 44.583.000đồng (trong đó gốc 23.100.000đồng, lãi trong hạn 5.082.000đồng, lãi quá hạn 2.541.000 đồng, phí hao mòn và mượn xe 13.860.000đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố số KGM 221201007NA22X ngày 16/12/2022 mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 24/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty.

* Bị đơn ông Trần Minh M:

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt thông báo thụ lý vụ án, các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Trần Minh M đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông M đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Vị đại diện Việm kiểm sát phát biểu quan điểm:

  • Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã tuân theo đúng các quy định về pháp luật tố tụng dân sự.
  • Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại các Điều 48, 49, 51 của Bộ luật tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử.
  • Về chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thì nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
  • Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 116, 309, 310 và 313 Bộ luật dân sự năm 2015.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay; Buộc ông Trần Minh M phải có trách nhiệm trả cho Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 44.583.000đồng (trong đó gốc 23.100.000đồng, lãi trong hạn 5.082.000đồng, lãi quá hạn 2.541.000 đồng, phí hao mòn và mượn xe 13.860.000đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố số KGM 221201007NA22X ngày 16/12/2022 mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 24/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty.

Đình chỉ một phần yêu cầu của nguyên đơn đối với ông Phạm Ngọc C về yêu cầu tính phí theo dõi 778.716đồng, phí thanh lý trước hạn 679.501đồng và

buộc ông M phải thực hiện nghĩa vụ giao trả lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát số 68D1-812.15; Loại xe: HONDA Future viet 125cc Fi; Màu: trắng đen; Số khung: RLHJC7659NY169790; Số máy: JC90E0366400; Số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000431 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 đứng tên Trần Minh M.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án để giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Tại đơn khởi kiện Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay yêu cầu ông Trần Minh M phải trả số tiền cầm cố tài sản và phí hao mòn khi mượn xe còn nợ. Xét thấy đây là tranh chấp hợp đồng dân sự về cầm cố tài sản và mượn tài sản. Phía bị đơn ông Trần Minh M cư trú tại xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Minh M đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án HĐXX có cơ sở xác định như sau: Ngày 16/12/2022 ông Trần Minh M có ký kết hợp đồng cầm cố tài sản số KGM 221201007NA22X với Công Ty Cổ Phần S1 nhánh Kiên Giang để lấy số tiền 23.100.000đồng, thời hạn cầm cố là 24 tháng, lãi suất thỏa thuận 1,1%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, phương thức trả nợ theo tháng, ngày đến hạn trả nợ kỳ đầu tiên 16/01/2023. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Trần Minh M chưa trả được kỳ nào cho Công ty, tạm tính đến ngày 23/8/2024 ông M còn nợ Công ty tổng số tiền 44.583.000đồng (trong đó gốc 23.100.000đồng, lãi trong hạn 5.082.000đồng, lãi quá hạn 2.541.000 đồng, phí hao mòn và mượn xe 13.860.000đồng). Do ông M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ khi đến hạn nên Công ty khởi kiện yêu cầu ông Trần Minh M phải trả hết nợ cho Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay.

[3.1] Xét tính hợp pháp của hợp đồng cầm cố đã ký kết giữa nguyên đơn với bị đơn, HĐXX thấy rằng chủ thể tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực trách nhiệm dân sự; các bên tham gia ký hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện; mục đích và nội dung của hợp đồng cầm cố số KGM 221201007NA22X ngày 16/12/2022 không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Vì vậy, căn cứ Điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hợp đồng cầm cố ngày 16/12/2022 được ký kết giữa nguyên đơn với bị đơn có hiệu luật pháp luật.

[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ; Tại hợp đồng cầm cố tài sản số KGM 221201007NA22X ngày 16/12/2022; giấy mượn xe ngày 16/12/2022 và văn bản tra cứu giao dịch đảm bảo của chiếc xe cầm cố theo mã số đăng ký 483371049 mà phía nguyên đơn cung cấp đã thể hiện đầy đủ việc giao kết giữa Công ty Cổ Phần S1 Tiền Có Ngay với ông Trần Minh M cụ thể về số tiền cầm cố, tài sản cầm cố, thời hạn cầm cố, lãi suất, cũng như phương thức thanh toán. Việc cầm cố tài sản đã được đăng ký giao dịch đảm bảo trên hệ thống đăng ký trực tuyến của Cục Đ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía Công ty đã giải ngân đầy đủ tiền số tiền cầm cố cho ông M. Tuy nhiên, ông M đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán của mình đối với Công ty.

Căn cứ các Điều 116, 309, 310 và 313 Bộ luật dân sự năm 2015; HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Trần Minh M có trách nhiệm trả cho Công Ty Cổ Phần S1 Tiền Có Ngay số tiền cầm cố còn nợ tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 44.583.000đồng (trong đó gốc 23.100.000đồng, lãi trong hạn 5.082.000đồng, lãi quá hạn 2.541.000 đồng và phí hao mòn và mượn xe 13.860.000đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố số KGM 221201007NA22X ngày 16/12/2022 mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 24/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty Cổ Phần S1 Có Ngay.

[4] Đối với tài sản cầm cố 01 xe mô tô hai bánh BKS 68D1-812.15, Loại xe: HONDA Future viet 125cc Fi, Màu: trắng đen, Số khung: RLHJC7659NY169790, Số máy: JC90E0366400, Số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000431 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 đứng tên Trần Minh M. Tài sản cầm cố do phía ông M quản lý, sử dụng nên phía Công ty không yêu cầu Tòa án thẩm định và xử lý đối với tài sản cầm cố nêu trên. Do đó, HĐXX không xem xét.

Sau khi ông Trần Minh M trả nợ xong thì Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay phải trả cho ông M bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy biển kiểm soát số 68D1-812.15 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 ông Trần Minh M đứng tên đã cầm cố.

[5] Đối với yêu cầu tính phí theo dõi, phí thanh lý trước hạn và buộc bị đơn giao trả xe: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút yêu cầu đối với khoản phí theo dõi, phí thanh lý trước hạn và buộc bị đơn giao trả xe mô tô, xe máy biển kiểm soát số 68D1-812.15. Xét thấy, việc rút yêu cầu tính phí theo dõi, phí thanh lý trước hạn và buộc bị đơn giao trả xe của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện nên HĐXX chấp nhận, đình chỉ yêu cầu tính phí theo dõi, phí thanh lý trước hạn và buộc bị đơn giao trả xe mô tô, xe máy biển kiểm soát số 68D1-812.15 đối với ông Trần Minh M.

[6] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận trong quá trình nghị án.

[7] Về án phí DSST: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án thì ông M chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay (44.583.000đồng x 5%) là 2.229.000đồng.

H lại cho Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp, do yêu cầu khởi kiện của Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay được HĐXX chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng các Điều 116, 117, 309, 310, 313 và 494 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay.

    Buộc ông Trần Minh M phải trả cho Công Ty Cổ Phần S1 Tiền Có Ngay tổng số tiền 44.583.000đồng (Bốn mươi bốn triệu năm trăm tám mươi ba nghìn đồng) và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố số KGM 221201007NA22X ngày 16/12/2022 mà hai bên đã ký kết, thời gian tính lãi tiếp từ ngày 24/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty.

    Sau khi ông Trần Minh M trả nợ xong thì Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay phải trả cho ông M bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy biển kiểm soát số 68D1-812.15 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 ông Trần Minh M đứng tên.

  2. Đình chỉ yêu cầu buộc bị đơn phải trả phí theo dõi 778.716 đồng, phí thanh lý trước hạn 679.501 đồng và buộc ông M phải thực hiện nghĩa vụ giao trả lại chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát số 68D1-812.15; Loại xe: HONDA Future viet 125cc Fi; Màu: trắng đen; Số khung: RLHJC7659NY169790; Số máy: JC90E0366400; Số giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số: 000431 do Công an tỉnh K cấp ngày 20/10/2022 đứng tên Trần Minh M.
  3. Về án phí DSST: Buộc ông Trần Minh M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.229.000đồng (Hai triệu hai trăm hai mươi chín nghìn đồng).

    H lại cho Công Ty Cổ Phần S1 Có Ngay toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 686.000đồng (Sáu trăm tám mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001001 ngày 23/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

  4. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 23/8/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - Chi cục THADS huyện Hòn Đất;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Hồng Điệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và mượn tài sản

  • Số bản án: 101/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản và mượn tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger