|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 23 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thanh Bình và bà Trần Thị Phượng
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 Tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 97/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Phan Văn Q, sinh ngày 29/9/1985, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn 2, Phương Trù, xã Yên Phương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn K và bà Đào Thị T; vợ: Chu Thị P; con: 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2006/HSST ngày 12/5/2006 của Toà án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt Phan Văn Q 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng, về tội cướp giật tài sản, tháng 7 năm 2007, Q đã thi hành xong án phí 50.000đ; Ngày 11/10/2021, Công an phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, mức phạt 1.500.000 đồng. Ngày 12/10/2021, Q đã thi hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 40 phút, ngày 02/4/2024, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Vĩnh Yên phối hợp Công an phường Liên Bảo làm nhiệm vụ tại khu vực đường Lý Thái Tổ thuộc Tổ dân phố Chùa Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, phát hiện Phan Văn Q có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma tuý, quá trình kiểm tra phát hiện tại lòng bàn tay trái của Q đang cầm 01 gói giấy bạc nhỏ, màu trắng bên trong có chứa chất cục, bột màu trắng, Q tự khai nhận là ma tuý Heroine vừa mua được, mục đích sử dụng cho bản thân, Tổ công tác đã niêm phong vào phong bì thư ký hiệu A1. Sau đó Tổ công tác đưa Q cùng tang vật về trụ sở làm việc.
Cùng ngày 02/4/2024, CQĐT Công an thành phố Vĩnh Yên đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 855 trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu ký hiệu A1 thu giữ của Q.
Tại Kết luận giám định số 948/KLGĐ-KTHS ngày 06/4/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: “Chất cục, bột màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2297g (không phảy hai hai chín bảy gam, không kể bao bì), loại Heroine...
Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: A1 = 0,1897 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 830...”.
Về nguồn gốc gói ma túy thu giữ, quá trình điều tra Phan Văn Q khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 02/4/2024, Q đang ở gần nhà ở xã Yên Phương, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc thì nảy sinh ý định sử dụng ma tuý Heroine cho nhu cầu nghiện của bản thân, Q bắt xe ôm đi đến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc để mua ma tuý. Khi đi đến khu vực Chợ Vĩnh Yên, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, Q xuống xe, trả tiền xe ôm, và Q gặp một người phụ nữ, Q hỏi mua của người này 01 gói ma tuý Heroine với giá 250.000đ. Sau khi mua được gói ma tuý, Q cầm ở trong lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi vắng người để sử dụng. Khi đi được một đoạn thì bị Cơ quan công an kiểm tra hành chính, phát hiện và thu giữ.
Tại Cáo trạng số 108/CT- VKSNDVY ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Phan Văn Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm s khoản 1 Điều 51; xử phạt bị cáo Phan Văn Q từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/4/2024), không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định gồm: 0,1897 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 830”.
Bị cáo Phan Văn Q không bào chữa và tranh luận gì, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Lời khai nhận tội của bị cáo Phan Văn Q tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu, chứng cứ được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Hồi 08 giờ 40 phút, ngày 02/4/2024, tại khu vực đường Lý Thái Tổ thuộc Tổ dân phố Chùa Láp, phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Phan Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích sử dụng cho nhu cầu của bản thân thì bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Vĩnh Yên phố hợp với Công an phường Liên Bảo phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Q 01 gói giấy bạc nhỏ, bên trong có 0,2297 gam chất cục, bột màu trắng, qua giám định xác định là ma tuý loại Heroine.
Hành vi nêu trên của Phan Văn Q đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Nội dung điều luật quy định:
"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroin ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;"
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe của con người, làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
-
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo Q phạm tội theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt tù đến 5 năm nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.
Bị cáo Q là người có nhân thân xấu, năm 2006 Q bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo về tội: “Cướp giật tài sản”; năm 2021 Q bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: “trộm cắp tài sản”, mức phạt 1.500.000đ, bị cáo đã thi hành xong. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt. Căn cứ hành vi phạm tội của bị cáo cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
- Đối với người có liên quan trong vụ án: Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Q khoảng 50 tuổi, cao khoảng 1,6m, nước da trắng, cắt tóc ngắn, đây là lần đầu tiên Q gặp và mua ma tuý của người này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường Ngô Quyền về người phụ nữ theo như lời khai của Q nhưng chưa xác định được người này là ai. Ngoài lời khai của Q thì không có tài liệu nào xác định được cụ thể nhân thân, lai lịch của người đã bán ma tuý cho Q, do đó Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa xác định bị cáo Q không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đối với 0,1897 của mẫu ký hiệu A1 cùng toàn bộ bao gói được niêm phong kín trong một bao gói giấy “Mẫu trả vụ 380” là mẫu vật hoàn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
-
Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Phan Văn Q 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 02/4/2024).
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 0,1897 gam mẫu và toàn bộ bao gói được niêm phong trong một bao gói giấy “MẪU TRẢ VỤ 830” là mẫu vật hoàn lại sau giám định (đặc điểm tang vật như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/7/2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phan Văn Q phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Đường |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Q, Tàng trữ trái phép chất ma túy
