|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 101/2023/HS-ST Ngày: 21/12/2023 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Mạnh Long
Ông Huỳnh Hưng
Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Huỳnh Phương Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 108/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
NGUYỄN HỮU P (Tên gọi khác: T), sinh ngày 01/7/1991 tại tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: Tổ D, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T1 và bà Lê Thị H (đều còn sống); Có vợ là Huỳnh Thị Kim H1 và có 01(một) con sinh năm 2015; Tiền án, Tiền sự: Không;
Về nhân thân:
- - Ngày 30/8/2011, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số: 51/2011/HS-ST, đã được xóa án tích).
- - Ngày 21/11/2012, bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số: 162/2012/HS-PT, đã được xóa án tích)
- - Ngày 27/6/2020, bị UBND phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình xử phạt hành chính 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm ngàn đồng) về hành vi “Sử dụng các loại pháo mà không được phép” (QĐ số: 16/QĐ-XPVPHC).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/02/2023, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu P: Luật sư Đặng Văn Q – Công ty L và Cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh T, bào chữa theo yêu cầu của bị cáo. Có mặt.
* Bị hại: Công ty cổ phần B. Địa chỉ: 2 K, phường B, quận D, thành phố Hồ Chí Minh do ông Hoàng Trung K - Chức vụ: Tổng giám đốc đại diện theo pháp luật; Người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Đỗ Q1 - Chức vụ: Giám đốc điều hành, bà Q1 ủy quyền lại cho ông Nguyễn Khánh D, sinh năm 1988; Nơi cư trú: K Hải Phòng, tổ E, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng tham gia tố tụng (Văn bản ủy quyền số: 145/2022/UQ- FRT ngày 08/12/2022); Ông D có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Đặng Vinh S, sinh năm 1990; Nơi cư trú: 112/25 đường D, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1998; Nơi cư trú: 646 Cách mạng tháng 8, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Bùi Thanh T2, sinh năm 2000; Nơi cư trú: B, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Hà Ngọc M, sinh năm 1991; Nơi cư trú: 72B khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Ngọc Thanh T3, sinh năm 1997; Nơi cư trú: A T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1992; Nơi cư trú: 450 Cách mạng tháng 8, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Thanh H2, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố A, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Trương Bá H3, sinh năm 2001; Nơi cư trú: T, thị xã B, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Đình H4, sinh năm 1997; Nơi cư trú: C T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Võ Phú Đ, sinh năm 2000; Nơi cư trú: Số A đường F, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Ông Trần Đình Q2, sinh năm 1988; Nơi cư trú: A N, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hoàng Du S1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Vắng mặt.
- Ông Trần Thái Thủy P1, sinh năm 1988; Nơi cư trú: C4/10A Ấp C, xã T, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H5, sinh năm 1996; Nơi cư trú: 127/93/2 Â, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Bà Lê Hồ Ngọc T4, sinh năm 1998; Nơi cư trú: 30 đường số A, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Ông Vũ Cao Đ1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: 1 B, phường F, quận D, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Ông Đoàn Thái N1, sinh năm 1989; Nơi cư trú: 2805/20/25 P, phường G, quận H, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1992; Nơi cư trú: C Đình P, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Bà Trần Thị Đ2, sinh năm 1981; Nơi cư trú: A N, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Cẩm T6, sinh năm 1997; Nơi cư trú: F Đ, phường I, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Trọng T7, sinh năm 1998; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thu T8, sinh năm 1997; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 15 phút, ngày 25/11/2022, Nguyễn Hữu P cầm theo 01 (một) kìm cộng lực màu xanh và 02 (hai) thanh kim loại đến cửa hàng F số 592 Đ, phường T, quận T để phá khóa đột nhập vào bên trong trộm cắp tài sản, nhưng do thấy nhiều người đi lại trước cửa hàng nên P không thực hiện mà bỏ về. P cất giấu công cụ gây án tại cuối đường L, thuộc phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 07/12/2022, P điều khiển xe mô tô Exciter màu trắng đỏ chạy quanh thành phố Đà Nẵng tìm cửa hàng bán điện thoại nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến cửa hàng F đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, P thấy cửa hàng này có sơ hở nên chọn đột nhập trộm cắp. P mua 01 (một) kìm cộng lực màu xanh và 02 (hai) thanh kim loại (cây nhổ định) để thực hiện trộm cắp tài sản.
Khoảng 03 giờ ngày 08/12/2022, P mang theo các dụng cụ đã chuẩn bị rồi đeo khẩu trang, mặc áo khoác chống nắng, đeo ba lô màu đen điều khiển xe mô tô Exciter đến cửa hàng F số 826 đường N, phường A, quận S. Đến nơi, P dựng xe trước cửa hàng, rồi dùng kìm cộng lực cắt ổ khóa cửa cuốn phía ngoài, cắt dây xích khóa cửa gương và đột nhập vào bên trong. P đến nơi đặt két sắt dùng 02 thanh kim loại cạy mở két sắt lấy trộm số tiền 302.500.000 đồng bỏ vào trong ba lô màu đen. Sau đó, P tiếp tục đi đến các kệ trưng bày điện thoại, dùng 02 thanh sắt cạy cửa tủ lấy 32 điện thoại di động (11 điện thoại Iphone 13; 12 điện thoại Iphone 14; 09 điện thoại Iphone 11), 02 đồng hồ thông minh Apple Watch, 02 máy tính bảng Ipad Gen 10, 01 phụ kiện nhập khẩu sạc 20W bỏ vào ba lô màu đen. Sau khi lấy được tài sản, P vứt lại kìm cộng lực và 02 (hai) thanh kim loại tại hiện trường rồi bỏ đi.
P điều khiển xe Exciter từ Đà Nẵng vào Quảng Ngãi rồi tiếp tục đón xe khách vào thành phố Hồ Chí Minh. Tới thành phố Hồ Chí Minh, P đến nhà nghỉ P2 (địa chỉ A đường V, phường A, quận A, thành phố Hồ Chí Minh) thuê phòng 305 để cất giấu các tài sản trộm được, còn bản thân P thì thuê phòng trọ tại số C đường T, quận G, thành phố Hồ Chí Minh để ở. Chiếc xe mô tô Exciter Phúc thay đổi màu xe rồi gắn biển số khác vào xe để tránh bị phát hiện.
Số tài sản trộm cắp được, từ ngày 10/12/2022 đến ngày 07/01/2023, P đem các điện thoại di động đến nhiều cửa hàng điện thoại trên địa bàn tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh để bán gồm:
- - Cửa hàng Q3 (địa chỉ B, khu phố B, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương): 01 điện thoại Iphone 14 Promax với giá 30.000.000 đồng.
- - Cửa hàng H7 (địa chỉ 450 Cách mạng tháng 8, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương): 01 điện thoại Iphone 14 Promax.
- - Cửa hàng X (địa chỉ C T, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương): 02 điện thoại Iphone 14 Promax với giá 58.000.000 đồng.
- - Cửa hàng S2 (địa chỉ: Khu phố C, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương): 02 điện thoại Iphone 14 Promax với giá 60.000.000 đồng.
- - Cửa hàng N2 (địa chỉ F đường C, phường F, quận A, thành phố Hồ Chí Minh): 01 điện thoại Iphone 13.
- - Cửa hàng V1 (địa chỉ B L, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh): 01 điện thoại Iphone 13 với giá 17.500.000 đồng.
- - Cửa hàng S2 (địa chỉ C Đình P, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh): 06 điện thoại Iphone 11, 07 đến 08 điện thoại Iphone 13, 02 điện thoại Iphone 14.
- - Cửa hàng S2 (địa chỉ: I Â, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh): 04 điện thoại Iphone 13 (04 điện thoại này mua từ của hàng HT mobile không rõ địa chỉ)
Ngoài ra P còn thông qua các trang mạng xã hội để rao bán điện thoại trộm được. Khi đi bán các điện thoại trộm được cho các cửa hàng thì P lấy tên giả là T2 và nói dối điện thoại là do công ty trả thưởng cho nhân viên để chủ cửa hàng tin tưởng mua. Ngoài việc P trực tiếp đem bán thì P còn nhờ một người tên H6 (không rõ lai lịch) bán giúp các điện thoại trộm được. Số tiền có được từ việc bán điện thoại và trộm được P tiêu xài hết. Chiếc xe mô tô Exciter sau đó P đã bán cho người khác (không rõ lai lịch), nên không thu hồi được.
Tang, tài vật thu giữ:
- - 01 (một) điện thoại iPhone 13 128GB Hồng MLPH3VN/A, Imei: 351309642400196; 01 (một) điện thoại iPhone 13 128GB Hồng MLPH3VN/A, Imei: 352831576113197; 01 (một) điện thoại iPhone 11 128GB Đen MIDH3VN/A, Imei: 354022140868387; 01 (một) điện thoại iPhone 14 Pro Max 128GB Đen MOP3VN/A, Imei: 356266760172210; 01 (một) điện thoại iPhone 14 Pro Max 128GB Vàng MODRIVN/A, Imei:355597825238955; 01 (một) điện thoại iPhone 14 Pro Max 128GB Vàng MOR3VN/A, Imei: 355597829379342; 01 (một) điện thoại iPhone 14 Pro Max 256GB Vàng MQ9W3VN/A, Imei:356266760813755; 01 (một) điện thoại iPhone 14 Pro Max 256GB Vàng MO9W3VN/A., I: 356266761551230; 01 (một) điện thoại iPhone 13 256GB Xanh Lá Cây MNGL3VN/A, Imei:354922763788749; 01 (một) điện thoại iPhone 11 128GB Đen MHDH3VN/A, Imei:351088542403191; 01 (một) điện thoại iPhone 11 64GB Đen MIDA3VN/A, Imei: 358292243244655; 01 (một) điện thoại iPhone 11 64GB Đen MHDA3VN/A, Imei: 358292243236594; 01 (một) điện thoại iPhone 14 128GB Đỏ MPVA3VN/A, Imei:350505202115261; 01 (một) điện thoại iPhone 11 64GB Den MHDA3VN/A, Imei:355685270956807; 01 (một) điện thoại iPhone 11 64GB Đen MHDA3VN/A, Imei:351088541202776; 01 (một) điện thoại iPhone 13 128GB Den MLPF3VN/A, Imei:354789232677864; 01 (một) điện thoại iPhone 13 128GB Xanh Dương MLPK3VN/A, Imei: 357474404628717; 01 (Một) điện thoại iPhone 13 128GB Xanh Lá Cây MNGK3VN/A, Imei: 354789236648796; 01 (một) đồng hồ thông minh Apple Watch, Imei: SGJ9HG8CEJ5WY; 01 (một) đồng hồ thông minh Apple Watch, Imei: SGJ9HH2YFJ5WY; 01 (một) máy tính bảng Ipad Gen 10, Imei: SX54W3G4F95; 01 (một) máy tính bảng Ipad Gen 10, Imei: SL9G6LHX2HT.
Các tài sản trên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Khánh D - là người đại diện hợp pháp của Cửa hàng F số 826 N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, Imei: 355001504708768; 01 (một) đồng hồ thông minh hiệu Apple Watch màu bạc, Imei: 352922630966751; 01 (một) đồng hồ hiệu Tissot màu đen; 01 (một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Hữu P; 02 (hai) căn cước công dân mang tên Nguyễn Hữu P;
- - 01 (một) ổ khóa bằng kim loại, thân khóa màu vàng, vòng khóa màu trắng, kích thước (10,5x6x2,3)cm; 01 (một) vòng xích hình elip, kích thước (4x2,2)cm và ổ khóa treo kích thước (7x4,7x1,8)cm; 01 (một) kìm cộng lực bằng kim loại, dài 85cm; 01 (một) kìm cộng lực bằng kim loại, dài 45cm; 04 (bốn) thanh kim loại (cây nhổ đinh) màu đen.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 69 ngày 17/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đà Nẵng xác định tổng giá trị tài sản của 37 thiết bị điện tử gồm: 32 điện thoại di động (11 điện thoại Iphone 13; 12 điện thoại Iphone 14; 09 điện thoại Iphone 11), 02 đồng hồ thông minh Apple Watch, 02 máy tính bảng Ipad Gen 10, 01 phụ kiện nhập khẩu sạc 20W là: 650.729.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 42 ngày 11/01/2023 của Phòng K1 Công an thành phố Đ xác định: Dấu vết cắt trên ổ khóa và dấu vết cắt trên dây xích đều do kìm cộng lực gửi giám định tạo ra.
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 130/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra ban đầu khi mới bị bắt giữ, bị cáo Nguyễn Hữu P thừa nhận bị cáo là người thực hiện hành vi dùng công cụ phạm tội là kìm cộng lực cắt ổ khóa cửa cuốn phía ngoài, cắt dây xích khóa cửa gương tại cửa hàng F số 826 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, lén lút đột nhập vào bên trong cửa hàng trộm cắp các tài sản gồm: 302.500.000 đồng (Ba trăm lẻ hai triệu, năm trăm ngàn đồng) tiền Ngân hàng N3, và 37 thiết bị điện tử các loại với tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt được là: 953.229.000 đồng (Chín trăm năm mươi ba triệu, hai trăm hai mươi chín ngàn đồng), các thiết bị điện tử bị cáo bán cho các cửa hàng điện thoại tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuy nhiên, đến ngày 31/5/2023 bị cáo thay đổi lời khai, không thừa nhận về hành vi phạm tội và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nại Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự là không đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, với lý do bị cáo chỉ đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào đêm ngày 25/11/2022 tại Cửa hàng F số 592 đường Đ, quận T, thành phố Đà Nẵng nhưng không lấy được tài sản; Còn đêm ngày 08/12/2022 người đột nhập vào Cửa hàng F số 826 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng trộm cắp tài sản là đối tượng tên H6 (bị cáo khai không rõ nhân thân lai lịch) thực hiện việc trộm cắp tài sản, sau đó H6 kể lại cho bị cáo nghe, đồng thời có nhờ bị cáo mang các tài sản trộm cắp được là các điện thoại di động bán ở các cửa hàng điện thoại tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh đưa tiền lại cho H6. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố để tuyên bố bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản cáo trạng số 130/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/10/2023. Trên cơ sở phân tích đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu P từ 14 (mười bốn) đến 15 (mười lăm) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Hữu P có trách nhiệm bồi thường lại toàn bộ giá trị thiệt hại do bị cáo gây ra cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý như đã đề cập trong nội dung bản cáo trạng truy tố theo quy định của pháp luật.
Luật sư Đặng Văn Q bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu P có quan điểm bào chữa như sau: Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo P từ giai đoạn điều tra ban đầu thì thấy, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ mà cơ quan điều tra thu giữ được cho thấy bị cáo chính là người người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản tại cửa hàng FPT số H đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, tuy nhiên, đến ngày 31/5/2023 bị cáo thay đổi lời khai không thừa nhận về hành vi phạm tội mà khai nại rằng người thực hiện hành vi trộm cắp tại cửa hàng F số 826 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng là một đối tượng tên H6 thực hiện (nhưng bị cáo không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh và cũng không cung cấp được nơi ở của H6). Vì vậy, với tư cách người bào chữa cho bị cáo luật sư cho rằng Bản cáo trạng số: 130/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố đối với bị cáo P về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, vì vậy luật sư không có tranh luận về tội danh truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo. Tuy nhiên, luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo về những vấn đề sau: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm...” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt là không đúng. Vì Bản án số 51/HSST ngày 30/8/2011 và Bản án số: 162/HSPT ngày 21/11/2012 bị cáo P đã chấp hành xong về hình phạt, án phí. Do đó, bị cáo P đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự, nên lần phạm tội này của bị cáo là không thuộc trường hợp tái phạm. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mặc dù tại phiên tòa bị cáo không thật sự khai báo thành khẩn, không tỏ ra ăn năn hối cải, song xét về hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn có cha, mẹ già yếu là thương binh, đang bị bệnh tâm thần phân liệt, thiếu người chăm sóc, vợ không có việc làm, con còn nhỏ.... Với lập luận trên, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt không áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (Tái phạm) và áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, quyết định cho bị cáo mức hình phạt phù hợp, nhằm thể hiện tính nhân đạo pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Bị hại Công ty cổ phần B và người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Khánh D vắng mặt, có văn bản đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo P bồi thường lại toàn bộ thiệt hại về tài sản do bị cáo gây ra cho công ty, theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ, có đơn xin xét xử vắng mặt, và vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 192 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo luật định.
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
[2.1] Mặc dù, tại Biên bản hỏi cung ghi ngày 31/5/2023 bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo P tiếp tục kêu oan và cho rằng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự là không đúng người, không đúng pháp luật, đồng thời khai nại rằng người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào đêm ngày 08/12/2022 tại cửa hàng F số 826 đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng như nội dung bản cáo trạng truy tố là một đối tượng tên H6 (bị cáo không xác định được nhân thân lai lịch), sau đó H6 mang tài sản vào thành phố Hồ Chí Minh gặp bị cáo và kể lại cho bị cáo biết, đồng thời nhờ bị cáo mang tài sản là các điện thoại di động bán tại tỉnh Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh rồi đưa tiền lại cho H6. Vì vậy, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại về tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố để tuyên bố bị cáo không phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua xem xét lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu P trong quá trình điều tra ở giai đoạn ban đầu sau khi bị bắt giữ được thể hiện tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung (các BL số 346-351); Các Bản tự khai/Bản tường trình (các BL số 356-358), quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa; luận cứ bào chữa của luật sư người bào chữa cho bị cáo P; lời khai của bị hại; lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Kết luận giám định; Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
[2.2] Vào đêm ngày 08/12/2022, Nguyễn Hữu P là người đã có hành vi sử dụng kìm cộng lực cắt ổ khóa của cửa hàng F tại địa chỉ số H đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, đột nhập vào bên trong lấy trộm số tiền 302.500.000 đồng (Ba trăm lẻ hai triệu, năm trăm ngàn đồng) trong két sắt và lấy trộm 37 (Ba mươi bảy) thiết bị điện tử các loại (gồm 11 điện thoại di động Iphone 13; 12 điện thoại di động Iphone 14; 09 điện thoại di động Iphone 11; 02 đồng hồ thông minh Apple Watch; 02 máy tính bảng Ipad Gen 10; 01 phụ kiện nhập khẩu sạc 20W theo định giá tài sản trong tố tụng hình sự với tổng trị giá 650.729.000 đồng). Tổng giá trị tài sản Nguyễn Hữu P chiếm đoạt là 953.229.000 đồng (Chín trăm năm mươi ba triệu, hai trăm hai mươi chín ngàn đồng) tiêu xài cho mục đích cá nhân. Vì vậy, việc bị cáo không thừa nhận về hành vi phạm tội của mình, khai nại người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào đêm ngày 08/12/2022 tại cửa hàng F địa chỉ số H đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng là một đối tượng tên H6 (nhưng bị cáo không biết về nhân thân lai lịch cũng như không đưa ra được tài liệu, chứng cứ, chứng minh đối tượng H6 là người trộm cắp) là không có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận;
[2.3] Xét thấy giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) trở lên là thuộc tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 130/CT-VKSĐN-P2 ngày 11/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo Nguyễn Hữu P về tội “Trộm cắp tài sản” theo tình tiết định khung điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
[3] Xét tính chất của vụ án, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như về nhân thân bị cáo thì thấy:
[3.1] Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bởi lẽ quyền sở hữu về tài sản luôn được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến khách thể nói trên một cách trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng đều bị pháp luật trừng trị và xử lý, tùy theo tính chất, mức độ do hành vi trái pháp luật đó gây ra. Bị cáo Nguyễn Hữu P có đầy đủ nhận thức về điều đó, song P không có nghề nghiệp và muốn có tiền tiêu xài cho nhu cầu mục đích bản thân đã bất chấp sự trừng trị của pháp luật, lén lút đột nhập vào cửa hàng kinh doanh của bị hại để chiếm đoạt với tổng giá trị tài sản 953.229.000 đồng (Chín trăm năm mươi ba triệu, hai trăm hai mươi chín ngàn đồng). Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, đồng thời còn gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Do đó, việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố bị cáo để xử lý nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[3.2] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.2.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Hữu P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.2.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra ban đầu, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội nhưng sau đó thay đổi lời khai và tại phiên tòa bị cáo khai báo gian dối, không biết ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo có con còn nhỏ, cha là ông Nguyễn Văn T9 là thương binh, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; mẹ của bị cáo là bà Lê Thị H được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhì; nên được Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt cho bị cáo.
[3.2.3] Về nhân thân và quyết định hình phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu P có nhân thân không tốt, trước đây đã từng bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” lần phạm tội này tuy không thuộc trường hợp tái phạm nhưng thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời vẫn chưa bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Do đó, cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc, tiếp tục cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian dài nhất định mới đủ sức để răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là cần thiết.
[4] Xét luận cứ bào chữa của luật sư Đặng Văn Q người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử tại các tiểu mục [3.2.1], [3.2.2] nêu trên nên Hội đồng xét xử ghi nhận, tuy nhiên việc luật sư đề nghị áp dụng mức hình phạt phù hợp dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là không có căn cứ, nên không chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty cổ phần B tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại hồ sơ vụ án đã có văn bản trình bày nội dung và đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo bồi thường tổng số tiền bị thiệt hại về tài sản là: 871.406.000 đồng (T10 trăm bảy mươi mốt tiệu, bốn trăm lẻ sáu ngàn đồng), đồng thời một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án do mua tài sản không biết do phạm tội mà có gồm ông Trần Thái T11 P yêu cầu bồi thường lại số tiền 63.500.000 đồng (Sáu mươi ba triệu, năm trăm ngàn đồng), anh Nguyễn Hoàng Du S1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) và bà Nguyễn Thị Cẩm T6 số tiền 65.760.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng) do tài sản đã được thu hồi từ người mua tài sản trả lại cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu này của bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chính đáng, phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự nên chấp nhận buộc bị cáo bồi thường.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
[6.1] Đối với các vật chứng là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[6.2] Đối với vật chứng là các tài sản bị cáo mua từ nguồn tiền trộm cắp, cần quy trữ để đảm bảo thi hành án.
[6.3] Đối với vật chứng là giấy tờ tùy thân của bị cáo, không liên quan đến vụ án, thì trả lại cho bị cáo.
[7] Những vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
[7.1] Đối với các chủ cửa hàng mua điện thoại của Nguyễn Hữu P, không biết đây là tài sản do P trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự là có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
[7.2] Đối với đối tượng tên H6 bị cáo khai nhờ bán giúp điện thoại nhưng bị cáo không biết nhân thân lai lịch, cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cũng không đề cập đến.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
[8.1] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8.2] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt:
- Căn cứ: Điểm a khoản 4 Điều 173; khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu P: 17 (mười bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt, ngày 26/02/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải có trách nhiệm bồi thường cho:
- Công ty CP B số tiền: 871.406.000 đồng (T10 trăm bảy mươi mốt tiệu, bốn trăm lẻ sáu ngàn đồng).
- Ông Trần Thái Thủy P1 số tiền 63.500.000 đồng (Sáu mươi ba triệu, năm trăm ngàn đồng).
- Ông Nguyễn Hoàng Du S1 số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Bà Nguyễn Thị Cẩm T6 số tiền 65.760.000 đồng (Sáu mươi lăm triệu, bảy trăm sáu mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu thêm khoản lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự. Các đương sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01(một) kìm cộng lực bằng kim loại, dài 85cm; 01(một) kìm cộng lực bằng kim loại, dài 45cm; 04 (bốn) thanh kim loại (cây nhổ đinh) màu đen; 01(một) ổ khóa bằng kim loại, thân khóa màu vàng, vòng khóa màu trắng, kích thước (10,5x6x2,3)cm; 01(một) vòng xích hình elip, kích thước (4x2,2)cm và ổ khóa treo kích thước (7x4,7x1,8)cm;
- Tiếp tục quy trữ tạm giữ của bị cáo Nguyễn Hữu P các vật chứng để đảm bảo thi hành án gồm: 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro màu tím, Imei: 355001504708768; 01(một) đồng hồ thông minh hiệu Apple Watch màu bạc, I: 352922630966751 và 01(một) đồng hồ hiệu Tissot màu đen;
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu P các vật chứng gồm: 01(một) hộ chiếu mang tên Nguyễn Hữu P; 02 (hai) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Hữu P.
(Toàn bộ các vật chứng nêu trên hiện Cục thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2023).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 42.919.980 đồng (Bốn mươi hai triệu, chín trăm mười chín ngàn, chín trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký và đóng dấu) Phan Vĩnh Chuyển |
Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 101/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào đêm ngày 08/12/2022, Nguyễn Hữu P là người đã có hành vi sử dụng kìm cộng lực cắt ổ khóa của cửa hàng F tại địa chỉ số H đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, đột nhập vào bên trong lấy trộm số tiền 302.500.000 đồng (Ba trăm lẻ hai triệu, năm trăm ngàn đồng) trong két sắt và lấy trộm 37 (Ba mươi bảy) thiết bị điện tử các loại (gồm 11 điện thoại di động Iphone 13; 12 điện thoại di động Iphone 14; 09 điện thoại di động Iphone 11; 02 đồng hồ thông minh Apple Watch; 02 máy tính bảng Ipad Gen 10; 01 phụ kiện nhập khẩu sạc 20W theo định giá tài sản trong tố tụng hình sự với tổng trị giá 650.729.000 đồng). Tổng giá trị tài sản Nguyễn Hữu P chiếm đoạt là 953.229.000 đồng (Chín trăm năm mươi ba triệu, hai trăm hai mươi chín ngàn đồng) tiêu xài cho mục đích cá nhân.
