Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN XUÂN LỘC

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS- ST

Ngày: 21/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Phượng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quang Nghĩa.

2. Bà Nguyễn Thị Thu.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân lộc, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quỳnh- Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2024/HSST ngày 06 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 10/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không.

Giới tính: N; Sinh năm 1986 tại thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi thường trú: 60/407A, Phan Huy Í, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 7/12.

Họ và tên cha: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1953 (đã chết).

Họ và tên mẹ: Phạm Thị N1, sinh năm 1956. Hiện mẹ đang sinh sống tại phường 12, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh

Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ năm trong gia đình.

Vợ: Lê Thị Thu T2, sinh năm 1990. Nghề nghiệp: Nội trợ.

Con: Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện X từ ngày 17/11/2023 đến nay.(có mặt)

* Người bị hại:

Bà Trần Thị H, sinh năm 1983.(có mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị Thu T2, sinh năm 1990.(vắng mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng năm 2020, Nguyễn Văn T sử dụng mạng xã hội Zalo liên hệ qua tài khoản Zalo tên “M” để đặt làm 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, với giá 2.500.000 đồng. T đã gửi hình ảnh chụp căn cước công dân của T và nhắn thông tin nơi ở hiện tại của T là ở huyện X sang cho người có tài khoản tên “My” thì người này tự lấy thông tin và làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho T. Khoảng 03 ngày sau khi đặt thì người có tài khoản tên “M” gửi giấy tờ đất giả về cho T qua dịch vụ giao hàng, khi nhận được giấy tờ đất giả thì T mới trả tiền mặt 2.500.000 đồng cho người giao hàng để thu hộ cho người tên “M”. Khi trả tiền xong, T nhận được 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CV926449, mang thông tin của Nguyễn Văn T và Lê Thị Thu T2 (vợ T) và thông tin thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49 thuộc xã X, huyện X. Sau khi lấy được giấy tờ đất giả trên T cất tại nhà, không ai biết.

Đến khoảng tháng 02/2021, T tiếp tục liên hệ người có tài khoản Zalo tên “My” để đặt làm 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên một mình T. Cách thức đặt làm giấy tờ giả và số tiền cũng giống như lần đầu T đặt làm là 2.500.000 đồng cho một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Sau khi T thanh toán số tiền đặt làm giấy tờ đất giả là 7.500.000 đồng cho người giao hàng thì T nhận được 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cụ thể:

  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69 thuộc xã X, huyện X;
  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20 thuộc xã X, huyện X;
  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28 thuộc xã X, huyện X.

Sau khi T nhận được 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thì T mang về nhà cất giấu, không ai biết.

Vì nợ nần và không có khả năng chi trả nên Nguyễn Văn T đã nảy sinh ý định sử dụng các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả nêu trên để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Do có mối quan hệ quen biết thân thiết với bà Trần Thị H, sinh năm 1983, ngụ tại ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai, biết chị H có tiền và đã nhiều lần cho T mượn tiền nên T đã sử dụng các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thế chấp cho bà H để vay tiền nhằm chiếm đoạt tiền của bà H, cụ thể như sau:

Lần 1: Tháng 02/2023, T muốn vay số tiền 100.000.00 đồng nhưng bà H yêu cầu T thế chấp tài sản cho bà H làm tin, vì trước đó T đã vay của bà H khoảng 600.000.000 đồng nhưng chưa trả tiền gốc và lãi cho chị H thì T đồng ý. T đã sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CV926449, mang thông tin của Nguyễn Văn T và Lê Thị Thu T2, thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49 thuộc xã X, huyện X, đưa cho bà H làm tin. Vì tin tưởng T nên bà H không kiểm tra cụ thể và tin đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật của T nên đã cho T vay số tiền 100.000.000 đồng và không viết giấy vay nợ.

Lần 2: Đến tháng 04/2023, T sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thế chấp cho bà H vay thêm số tiền 100.000.00 đồng nên bà H đồng ý. Vì tin tưởng T nên bà H không kiểm tra cụ thể và tin đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật của T nên đã cho T vay số tiền 100.000.000 đồng và không viết giấy vay nợ.

Lần 3: Đến tháng 06/2023, T tiếp tục sửng dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20 thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai thế chấp cho bà H vay thêm số tiền 100.000.000 đồng. Vì tin tưởng T nên bà H không kiểm tra cụ thể và tin đây là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thật của T nên đã cho T vay số tiền 100.000.000 đồng và không viết giấy vay nợ.

Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến ngày 15/11/2023, ngoài 03 lần vay nợ trên, T còn vay nợ bà H nhiều lần khác nên bà H và T đã lập một giấy vay nợ xác nhận tổng số tiền mà T đã vay của bà H là 1.380.000.000 đồng.

Lần 4: Cũng bằng thủ đoạn lừa đảo nêu trên, khoảng 11 giờ 45 phút ngày 17/11/2023, T đến gặp bà H tại quán cà phê võng sân vườn 79 tại ấp C, xã B, huyện X, Đồng Nai. Tại đây, T có đưa thế chấp cho bà H 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69 thuộc xã X, huyện X, để vay số tiền 50.000.00 đồng. Do trong khoảng thời gian từ tháng 4/2023 đến ngày 17/11/2023 ngoài các lần vay nợ trên, T còn vay nợ chị H nhiều lần khác nên chị H và T đã lập một giấy vay nợ xác nhận tổng số tiền mà T đã vay của bà H là 1.380.000.000 đồng, giao hẹn ngày 17/12/2023 T sẽ thanh toán toàn bộ số tiền đã vay cho bàc H. Sau khi T ký giấy vay mượn tiền, bà H đưa cho T số tiền 50.000.00 đồng, T đếm tiền xong, cầm bỏ vào túi thì có lực lượng công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Toàn bộ số tiền Nguyễn Văn T chiếm đoạt được của bà H, T sử dụng để trả nợ đã vay ngoài xã hội, tiêu xài cá nhân. T không đưa tiền cho ai cất giữ, vay mượn cũng như sử dụng tiền để đầu tư làm ăn.

- Tại bản Kết luận giám định số 2650/KL-KTHS, ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

1. Hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M4 đến M12) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

2. Chữ ký mang tên Trần Hữu P trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A3, A4) so với chữ ký mang tên Trần Hữu P trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng một người ký ra.

* Vật chứng vụ án:

  • Số tiền 50.000.000 đồng Công an thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen, gắn sim số 0343.464.479;
  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69, diện tích 1200m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;
  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CV926449, mang thông tin của Nguyễn Văn T và Lê Thị Thu T2 và thông tin thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49, diện tích 403,9m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;
  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20, diện tích 1070m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;
  • 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, diện tích 1050m² thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai;
  • 01 giấy đánh máy đề “GIẤY MƯỢN TIỀN” nghi ngày 17/11/2023 có chữ ký của Nguyễn Văn T;
  • 03 giấy ghi nợ viết tay có chữ ký của Nguyễn Văn T.

* Trách nhiệm dân sự:

Số tiền 50.000.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Văn T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X đã trao trả lại cho bà Trần Thị H và bà yêu cầu T phải trả lại cho bà H số tiền mà T đã lừa đảo chiếm đoạt của bà và số tiền mà T còn nợ bà trong vay mượn trước đó.

Tại bản Cáo trạng số: 107/CT-VKS ngày 02/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” điểm a khoản 3 Điều 174 và tội: “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên và đề nghị:

+ Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 08 (T) đến 09 (C) năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 11 (Mười một) năm 06 (Sáu) tháng đến 13 (Mười ba) năm tù.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen;

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69, diện tích 1200m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CV926449, mang thông tin của Nguyễn Văn T và Lê Thị Thu T2 và thông tin thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49, diện tích 403,9m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20, diện tích 1070m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, diện tích 1050m² thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy đánh máy đề “GIẤY MƯỢN TIỀN” nghi ngày 17/11/2023 có chữ ký của Nguyễn Văn T; 03 giấy ghi nợ viết tay có chữ ký của Nguyễn Văn T và chuyển theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0343.464.xxx.

- Về phần dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự tuyên:

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục bồi thường cho bà Trần Thị H số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt của bà H là: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu).

Riêng các khoản vay mà bị cáo T vay mượn của bà H trước đó. Xét đây là một giao dịch dân sự trong hợp đồng vay tài sản giữa bị cáo và bà H. Nên bà H có quyền khởi kiện bị cáo T bằng vụ kiện dân sự khác.

Hình phạt bổ sung: Không.

Bị cáo Nguyễn Văn T nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung:

Xét thấy tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào lúc 11 giờ 45 phút ngày 17/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện X phối hợp với Công an xã B tiến hành kiểm tra hành chính tại Quán C1, thuộc ấp C, xã B, huyện X, tỉnh Đồng Nai, phát hiện Nguyễn Văn T đã sử dụng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69, diện tích 1200m², thuộc xã X, huyện X để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 50.000.000 đồng của bà Trần Thị H. Qua kiểm tra, trên bàn còn có 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả khác mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin của thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49, diện tích 403,9m²; thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20, diện tích 1070m²; thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, diện tích 1050m², tất cả thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T và thu giữ tang vật theo quy định.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn T khai nhận, do bản thân nợ nần và không có khả năng chi trả nên T đã nảy sinh ý định sử dụng các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để làm tài sản cầm cố, thế chấp vay tiền của bà Trần Thị H nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của bà H để lấy tiền trả nợ.

Từ tháng 02/2023 đến ngày 17/11/2023, T đã sử dụng 04 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả để thế chấp làm tin, lừa đảo chiếm đoạt số tiền 350.000.000 đồng của bà Trần Thị H.

Tại bản Kết luận giám định số 2650/KL-KTHS, ngày 08/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận:

1. Hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với hình dấu tròn Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M4 đến M12) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

2. Chữ ký mang tên Trần Hữu P trên các tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu A1, A3, A4) so với chữ ký mang tên Trần Hữu P trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M3) không phải do cùng một người ký ra.

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” điểm a khoản 3 Điều 174 và tội: “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” điểm b khoản 3 Điều 341 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[3] Bị cáo Nguyễn Văn T do nợ nần bên ngoài không có khả năng chi trả nên đã nảy sinh việc làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để làm tài sản cầm cố, thế chấp vay tiền của bà Nguyễn Thị H1 nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của bị hại để có tiền bị cáo trả nợ. Tính từ tháng 02/2023 đến ngày 17/11/2023 bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt của bà H1 là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu).

Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của chủ sở hữu được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn bỏ mặt cho hậu quả xảy ra. Với hành vi gian dối làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tôi 02 lần trở lên, được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Có nhân thân tốt. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không.

[7] Về phần dân sự:

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự tuyên:

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục bồi thường cho bà Trần Thị H số tiền là: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu).

Riêng các khoản vay mà bị cáo T vay mượn của bà H trước đó. Xét đây là một giao dịch dân sự trong hợp đồng vay tài sản giữa bị cáo và bà H. Nên bà H có quyền khởi kiện bị cáo T bằng vụ kiện dân sự khác.

[8] Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen;

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69, diện tích 1200m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CV926449, mang thông tin của Nguyễn Văn T và Lê Thị Thu T2 và thông tin thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49, diện tích 403,9m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20, diện tích 1070m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, diện tích 1050m² thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy đánh máy đề “GIẤY MƯỢN TIỀN” nghi ngày 17/11/2023 có chữ ký của Nguyễn Văn T; 03 giấy ghi nợ viết tay có chữ ký của Nguyễn Văn T và chuyển theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0343.464.xxx.

[9] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 07 (B1) năm tù.

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 04 (B) năm tù.

Căn cứ Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 11(Mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 17/11/2023.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585 và 589 Bộ luật Dân sự

* Về phần dân sự:

- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T tiếp tục bồi thường cho bà Trần Thị H số tiền là: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu).

Riêng các khoản vay mà bị cáo T vay mượn của bà H trước đó. Xét đây là một giao dịch dân sự trong hợp đồng vay tài sản giữa bị cáo và bà H. Nên bà H có quyền khởi kiện bị cáo T bằng vụ kiện dân sự khác.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

* Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi, màu đen;

- Tịch thu lưu hồ sơ vụ án: 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 72, tờ bản đồ số 69, diện tích 1200m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CV926449, mang thông tin của Nguyễn Văn T và Lê Thị Thu T2 và thông tin thửa đất số 652, tờ bản đồ số 49, diện tích 403,9m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 57, tờ bản đồ số 20, diện tích 1070m², thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả số CI359419, mang thông tin của Nguyễn Văn T và thông tin thửa đất số 298, tờ bản đồ số 28, diện tích 1050m² thuộc xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; 01 giấy đánh máy đề “GIẤY MƯỢN TIỀN” nghi ngày 17/11/2023 có chữ ký của Nguyễn Văn T; 03 giấy ghi nợ viết tay có chữ ký của Nguyễn Văn T và chuyển theo hồ sơ vụ án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0343.464.xxx.

Vật chứng hiện đang tạm giữ tại của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

* Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn) án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng (Bảy triệu) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo; người bị hại được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai.
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Xuân Lộc;
  • - Công an huyện Xuân Lộc;
  • - CCTHADS huyện Xuân Lộc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS; THA; AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Kim Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS- ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 101/2024/HS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger