TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN Bản án số: 101/2025/HS-ST Ngày 18-12-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Loan.
Bà Trần Thị Thu Trang.
- Thư ký phiên toà: Bà Tạ Thị Hồng Trâm - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 87/2025/TLST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2025/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với bị cáo:
Hoàng Văn N, sinh ngày 15/5/1985 tại xã K, tỉnh Lạng Sơn; Căn cước công dân số [...]; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn A, xã K, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M, sinh năm 1957 và bà Tôn Thị S (đã chết); có vợ là Hoàng Thị C, sinh năm 1990 và 01 con, sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/7/2010, Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng (đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L từ ngày 01/8/2025 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị B, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Hoàng Thị C, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A, xã K, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 31/7/2025, Hoàng Văn N điều khiển xe môtô biển số 12UA-057.52 đi từ nhà đến khu vực ngã 6, phường T, tỉnh Lạng Sơn để mua ma túy H về sử dụng. Tại đây, N gặp một người đàn ông không quen biết và mua 02 gói ma túy Heroin với giá 2.000.000 đồng, N cho vào túi quần bên trái rồi mang về nhà. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/8/2025, bị cáo điều khiển chiếc xe môtô mang theo túi nilon chứa 02 gói ma túy đã mua tìm nơi sử dụng. Khi đang di chuyển trên trục đường Q hướng K - Đ, cách nhà khoảng 500m thì bị lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang thu giữ 01 túi nilon màu trắng kích thước 8,2cm x 5cm, đựng 02 gói giấy kẻ ô ly bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tiến hành kiểm tra ma túy đối với Hoàng Văn N ngày 01/8/2025 cho kết quả dương tính với chất ma túy; khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì.
Tại Kết luận giám định số 613/KL-KTHS ngày 04/8/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định đều là chất ma túy Heroin, có tổng khối lượng 2,472gam (đã trừ bì).
Tại bản Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 14/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn N tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố, bị cáo thừa nhận bản thân nghiện ma túy từ tháng 2/2024 bằng hình thức hít, ngày 31/7/2025, bị cáo đã đi mua ma túy về sử dụng, trên đường về thì bị bắt. Đối với chiếc xe máy mang biển kiểm soát 12UA-057.52 bị thu giữ, đây là tài sản riêng của vợ bị cáo, vợ không biết bị cáo mang xe đi để mua ma túy về sử dụng nên bị cáo đề nghị trả lại xe cho vợ bị cáo.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hoàng Thị C trình bày: Bà là vợ của bị cáo Hoàng Văn N, chiếc xe máy mang biển kiểm soát 12UA-057.52 là tài sản riêng của bà, bà mua mới năm 2025 tại Cửa hàng H bằng số tiền mà bà đi xuất khẩu lao động có được. Hàng ngày, bà vẫn để chìa khóa xe ở trên bàn, bà làm trong bếp nên không biết ai sử dụng chiếc xe trên đến khi lực lượng Công an đến nhà khám xét thì bà mới biết chồng bà đã lấy xe đi mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Việc chồng bà sử dụng xe đi mua ma túy bà không được biết, bà đề nghị được xin lại chiếc xe trên.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Văn N từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chiếc xe mô tô; bị cáo không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm do thuộc trường hợp được miễn án phí và có quyền kháng cáo theo quy định.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo trình bày: Nhất trí về tội danh, điều luật áp dụng, về các vấn đề khác đối với bị cáo mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, trợ giúp viên pháp lý đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là lần đầu phạm tội, là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trong phần tranh luận, bị cáo nhất trí với lời bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo; nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng, bị cáo trình bày đã ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hình phạt nhẹ nhất để được sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Xét lời khai nhận thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ đồ vật, Kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 01/8/2025, bị cáo bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 2,472gam chất ma túy Heroin để sử dụng. Hành vi này của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của người bào chữa, bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây mất an ninh trật tự xã hội, ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy. Khi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực hành vi và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do đó, bị cáo phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết về nhân thân, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
- Về nhân thân, bị cáo có nhân thân như phần lý lịch đã nêu; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá này, cần áp dụng hình phạt tù phù hợp với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng để răn đe, ngăn ngừa các hành vi, tội phạm về ma túy tương tự đang ngày càng gia tăng trong đời sống xã hội hiện nay.
- Về áp dụng hình phạt bổ sung, bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Cần tịch thu để tiêu hủy các tài sản là vật Nhà nước cấm tàng trữ, công cụ dùng vào việc phạm tội; trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án do không liên quan đến hành vi phạm tội, kèm chìa khóa xe.
- Về án phí, bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định, tuy nhiên bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đối với người đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng không biết thông tin, lai lịch của người này, nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo cơ bản là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15, khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N 03 (ba) năm, 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 01/8/2025. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hoàng Văn N.
- Xử lý vật chứng
- 3.1. Tịch thu để tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong theo quy định, bên trong có một gói giấy đựng tổng cộng 2,361 gam chất ma túy Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết).
- 3.2. Trả lại cho chị Hoàng Thị C 01 (một) xe mô tô BKS 12UA-057.52, màu sơn xám, nhãn hiệu HONDA, loại xe: hai bánh từ 50-175cm3; số khung RLHJA3934SY744382; số máy JA70E0950690, 01 (một) gương chiếu hậu bên trái, 01 (một) chìa khóa xe, xe cũ, đã qua sử dụng kèm theo 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô BKS 12UA-057.52; số 1200015678, cấp ngày 23/7/2025 do Công an xã V, tỉnh Lạng Sơn cấp, mang tên Hoàng Thị C.
(Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lạng Sơn theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Lạng Sơn).
- Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn N không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 101/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn N
