| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2025/DS-PT Ngày 07 - 3 - 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành Lập
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Công Tấn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Hồng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 tháng 01 và ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 497/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 372/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Hữu Thị Triều H, sinh năm 1985.
Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Kim Chan Ða R, sinh năm: 1987; Địa chỉ cư trú: Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 09 tháng 12 năm 2023, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Văn N là Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Lý Kim T, sinh năm 1962 (vắng mặt).
- Ông Hồ Thành T1, sinh năm 1955 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp của ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1: Bà Quách Kim T2, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Khóm F, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 15 tháng 10 năm 2024, có mặt)
- Ông Hữu T3, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp cho ông Hữu T3:
- Bà Quánh Kim T4, sinh năm 1995; Địa chỉ cư trú: Khóm F, phường A, thành phố C, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 14 tháng 10 năm 2024, có mặt).
- Ông Lý Hoàng A, sinh năm 1996; Địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau (Theo văn bản ủy quyền ngày 14 tháng 10 năm 2024, có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn: Luật sư Trang Thế N1 là Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Kim Đa L, sinh năm 1981 (chồng bà H, vắng mặt).
- Bà Dương Thanh T5, sinh năm 1956 (vợ ông T1, vắng mặt).
- Ông Hồ Quốc K (con ông T1, vắng mặt).
- Bà Hữu Thị S, sinh năm 1954 (cháu bà S1, vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1981 (vợ ông Hữu T3, vắng mặt).
- Chị Hữu Thị N2, sinh năm 2004 (con ông Hữu T3, vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Ủy ban nhân dân huyện T (vắng mặt).
Địa chỉ trụ sở: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Hữu Thị Triều H và người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Kim Chan Đa R trình bày:
Bà Hữu Thị Triều H có một phần đất diện tích 1.912,8m², tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do bà bà H nhận chuyển nhượng của bà Hữu Thị C vào tháng 02/2016 với giá trị 120.000.000 đồng, bà H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên. Trước đây, do ông Lý Kim T không có nơi ở nên bà H cho ông Kim T ở nhờ. Năm 2018, ông T cất nhà cơ bản trên đất, bà H có hay nhưng ông Kim T trình bày ý kiến là để chổ ở che nắng che mưa nên bà H đồng ý cho ông Kim T cất nhà. Khoảng tháng 4 năm 2018, bà H phát hiện ông Hồ Thành T1 tự ý lên vật tư và xây cất nhà cơ bản trên phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế 577,4m². Bà H phát hiện và ngăn cản, có báo chính quyền địa phương nhưng không có lập biên bản, ông T1 xác định đất của ông T1 có nguồn gốc sang nhượng của ông T nên ông T1 có quyền xây cất nhà, từ đó ông tiếp tục xây dựng trên phần đất này, bà H xác định đất là tài sản của bà H và chồng là ông Kim Đa L nhưng bà H là người đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà có toàn quyền quyết đinh đối với phần đất này. Bà H cũng phát hiện ông Hữu T3 cất nhà lấn sang phần đất của bà, bà H có ngăn cản nhưng ông Hữu T3 cho rằng đã sang nhượng từ ông Kim T phần đất có chiều ngang mặt tiền là 04m, chiều ngang mặt hậu 06m, chiều dài từ tiền đến hậu, tổng diện tích theo đo đạc thực tế 263,1m².
Tại phiên tòa, bà Hữu Thị Triều H yêu cầu ông Lý Kim T trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế 1.072,3m², ông Hồ Thành T1 trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế 577,4m², ông Hữu T3 trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế 263,1m², tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Đồng thời yêu cầu ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 di dời nhà và tài sản trên đất để trả lại hiện trạng ban đầu cho bà H được quản lý, sử dụng.
- Bị đơn ông Lý Kim T trình bày:
Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 1.912,8m² có nguồn gốc của của mẹ ông là bà Hữu Thóc Bon S1 (chết năm 2020) sang nhượng của ông Ngô Văn K1 (đã chết) và bà Đặng Thị K2 vào năm 2005 để trừ nợ số tiền 36.000.000 đồng. Do bà S1 mang quốc tịch Campuchia nên vào năm 2007 có nhờ bà Hữu Thị C đứng tên thay (bà C là chị em bạn dì với bà S1), từ đó ông K1 sang tên quyền sử dụng cho bà C. Ông Lý Kim Thanh Q, sử dụng đất từ thời điểm ông K1 và bà K2 chuyển nhượng đất cho bà S1 cho đến nay. Ông Lý Kim T hoàn toàn không biết việc bà Hữu Thị C chuyển tên quyền sử dụng đất cho bà H.
Năm 2008, ông Lý Kim T chuyển nhượng cho ông Hồ Thành T1 phần đất ngang 12m, chiều dài 53m với giá 180.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng được lập bằng giấy tay có xác nhận của chính quyền ấp Đ. Lúc chuyển nhượng, ông không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông biết bà C đứng tên quyền sử dụng đất, có hỏi ý kiến bà C và được bà C đồng ý. Năm 2020, ông Lý Kim T tiếp tục chuyển nhượng cho ông Hữu T3 phần đất ngang tiền 4m, ngang hậu 6m, chiều dài 53m với giá 17.000.000 đồng. Việc sang nhượng có làm giấy tờ và có xác nhận của trưởng ấp. Sau đó 02 năm, bà H về địa phương và xác định là đất của bà H. Đối với phần đất ông Kim T cất nhà, chỉ có một mình ông Kim T ở trên đất, không còn ai khác. Đất sang nhượng vào năm 2018 nhưng đến năm 2020 bà H mới đứng ra ngăn cản. Nay ông T không chấp nhận yêu cầu đòi đất của bà H.
- Bị đơn ông Hồ Thành T1 trình bày: Vào năm 2018, ông có nhận chuyển nhượng từ ông Lý Kim T phần đất có chiều ngang 12m, chiều dài từ mặt tiền đến mặt hậu 53m, diện tích theo đo đạc thực tế 577,4m² với giá trị 180.000.000 đồng. Việc sang nhượng có làm giấy tay, có bàn cận, kế cận chứng kiến và có xác nhận của chính quyền địa phương. Ông biết bà C đứng tên dùm bà S1 chứ không biết được việc bà Hữu Thị T6 Hon lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà C để sang tên cho bà H. Ông đã cất nhà cơ bản trên đất và sống chung với ông có vợ là bà T5 và con trai Hồ Quốc K. Khi ông cất nhà bà H không ngăn cản đến lúc đổ cột, xây tường lên cao, sắp xong thì bà H ngăn. Nay ông T1 không chấp nhận với yêu cầu của bà H đặt ra với lí do bà H tự lấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà C đứng tên sang tên cho bà H chứ không phải đất của bà H.
- Bị đơn ông Hữu T3 trình bày: Vào năm 2020, ông nhận chuyển nhượng từ ông Lý Kim T một phần đất có diện tích chiều ngang mặt tiền 4m, chiều ngang mặt hậu 6m, chiều dài từ mặt tiền đến mặt hậu với giá trị 17.000.000 đồng, nằm trong diện tích đất đang tranh chấp giữa bà Hữu Thị Triều H với ông Lý Kim T. Việc sang nhượng có làm giấy tờ, có bàn cận, kế cận chứng và có xác nhận của chính quyền địa phương. Ông đã biết bà C đứng tên dùm bà S1 chứ không biết được việc bà Hữu Thị T6 Hon lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên bà C sang tên cho bà H, khi ông chuyển nhượng đất bà H không biết và không ngăn cản. Năm 2022, bà H ngăn cản với lí do phần đất này là của bà H, không cho sang nhượng. Ông không có cất nhà trên đất, hiện trạng phần đất là cái ao nuôi cá. Nay ông không chấp nhận với yêu cầu của bà Hữu Thị Triều H đặt ra với lí do bà H tự lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà C đứng tên đi sang tên cho bà H chứ không phải đất của bà H.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 151/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau quyết định:
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hữu Thị Triều H đối với ông Lý Kim T, ông Hữu T3, ông Hồ Thành T1 về việc trả đất và tháo dỡ, di dời tài sản, khai thác cây trồng trên đất.
Buộc ông Lý Kim T có nghĩa vụ trả lại cho bà Hữu Thị T6 Hon phần đất có tổng diện tích 1.072,3m², trích đo từ thửa đất số 548, tờ bản đồ số 08 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau có tứ cận kèm theo.
Buộc ông Hồ Thành T1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Hữu Thị T6 Hon phần đất có tổng diện tích 577,4m², trích đo từ thửa đất số 548, tờ bản đồ số 08 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau có tứ cận kèm theo.
Buộc ông Hữu T3 có nghĩa vụ trả lại cho bà Hữu Thị T6 Hon phần đất có tổng diện tích 263,1m², trích đo từ thửa đất số 548, tờ bản đồ số 08 (bản đồ chỉnh lý năm 2016), tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau có tứ cận kèm theo.
Buộc các ông Hồ Thành T1, Lý Kim T, Hữu T3 có nghĩa vụ tháo dỡ công trình kiến trúc trên đất, khai thác cây trồng vật nuôi và tài sản gắn liền với đất nêu trên.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/10/2024, ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 thay đổi yêu cầu kháng cáo: Yêu cầu huỷ bản án dân sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn, luật sư Trang Thế N1 tranh luận: Án sơ thẩm buộc các bị đơn trả đất nhưng không giải quyết quyền lợi của các bị đơn gồm căn nhà, cây trồng trên đất, cũng như giá trị chuyển nhượng đất. Đề nghị Hội đồng xét xử huỷ bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn, bà Quách Kim T2 không tranh luận.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận: Án sơ thẩm xử là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ y bản án sơ thẩm.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Kim Chan Ð Ra tranh luận: Các bị đơn không yêu cầu cấp sơ thẩm giải quyết về giá trị đầu tư trên đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận kháng cáo của ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thới Bình giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3, Hội đồng xét xử nhận định:
- Phần đất tranh chấp có diện tích có diện tích 1.912,8m² thuộc thửa 584, tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau do bà Hữu Thị Triều H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02 tháng 12 năm 2019.
- Nguyên đơn và bị đơn thống nhất trình bày, phần đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Ngô Văn K1, bà Đặng Thị K2. Nguyên đơn bà Hữu Thị Triều H cho rằng, phần đất tranh chấp thì ông K1, bà K2 chuyển nhượng cho bà Hữu Thị C; bà C chuyển nhượng ông K1 có hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà C vào năm 2016. Tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Bút lục số 130-132) thể hiện: Năm 2016, bà C chuyển nhượng cho bà Hữu Thị Triều H quyền sử dụng phần đất diện tích 5.819m² tại thửa 240, 548 tờ bản đồ số 8. Việc chuyển nhượng có lập bằng văn bản được Ủy ban nhân dân xã C2 ngày 02 tháng 02 năm 2016. Phần đất tranh chấp thuộc thửa số 548, tờ bản đồ số 8 diện tích 2.204,1m², bà H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02 tháng 12 năm 2019. Ông Lý Kim T cho rằng, ông K1 và bà K2 chuyển nhượng cho mẹ ông là bà Hữu Thóc Bon S1 vào năm 2005 nhưng do bà S1 là người có quốc tịch Campuchia nên nhờ bà Hữu Thị C đứng tên thay. Như vậy, trình bày của bà H có văn bản chứng minh; còn trình bày của ông Lý Kim T không có văn bản chứng minh. Tuy nhiên, các chứng cứ khác của vụ án thể hiện: Bà Trần Thị K3, ông Ngô Văn K4 trình bày: Ông K1, bà K3 có chuyển nhượng cho bà Thóc Bon S1 (mẹ ruột của Lý Kim T) một phần đất chiều ngang 36m, chiều dài hơn 50m. Ông Chành T7 yêu cầu ông K4 tách quyền sử dụng đất cho bà Hữu Thị C1 đứng tên. Lý do bà S1, ông T không đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không biết (Bút lục số 160, 162). Như vậy, cấp sơ thẩm chưa làm rõ có việc bà C (C) đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dùm cho Hữu Thóc B Sua không. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hữu Thị Triều H với bà Hữu Thị C với giá 120.000.000 đồng, có việc giao nhận tiền hay chỉ là tặng cho quyền sử dụng đất (Bút lục số 03-06). Những người con khác của bà S1 có ý kiến gì đối với phần đất tranh chấp không.
- Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn yêu cầu, nếu trả đất cho bà H thì phải trả giá trị nhà, tài sản trên đất, công sức đầu tư, cải tạo, giá trị hợp đồng và hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Do án sơ thẩm buộc các bị đơn trả đất nhưng không giải quyết các vấn đề trên và cũng không giải thích quyền và nghĩa vụ của các bị đơn khi trả đất là ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của các bị đơn mà cấp phúc thẩm không khắc phục được.
- Ngoài ra, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 33/2022/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình (đã có hiệu lực) quyết định: Không chấp nhận yêu cầu của bà Hữu Thị Triều H khởi kiện ông Hồ Thành T1. Phần đất tranh chấp giữa bà Hữu Thị Triều H với ông Hồ Thành T1 trong vụ án này có trùng vị trí phần đất đã được giải quyết tại Bản án có hiệu lực pháp luật trên hay không để giải quyết vụ án đúng theo quy định pháp luật.
- Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thới Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng sẽ được xử lý khi giải quyết lại vụ án.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 không phải chịu án phí. Ông Hữu T3 có nộp tạm ứng án phí, được nhận lại.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3.
Tuyên xử:
- Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 151/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Thới Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng được xem xét khi giải quyết lại vụ án.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 không phải chịu. Ngày 09 tháng 10 năm 2024, ông Hữu T3 có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0016486 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, được nhận lại.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Trung |
7
Bản án số 101/2025/DS-PT ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 101/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Hữu Thị Triều H yêu cầu ông Lý Kim T trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế 1.072,3m2, ông Hồ Thành T1 trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế 577,4m2, ông Hữu T3 trả lại phần đất có diện tích đo đạc thực tế 263,1m2, tọa lạc tại ấp Đ, xã H, huyện T, tỉnh Cà Mau. Đồng thời yêu cầu ông Lý Kim T, ông Hồ Thành T1, ông Hữu T3 di dời nhà và tài sản trên đất để trả lại hiện trạng ban đầu cho bà H được quản lý, sử dụng
