Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 101/2025/DS-PT

Ngày: 17-02-2025

V/v “Tranh chấp hợp đồng

chuyển nhượng quyền sử

dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Trang;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh;

Bà Lê Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 482/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5133/2024/QĐXXPT-DS ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 316/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • - Ông Đặng Văn Đ, sinh năm: 1981; (có mặt)
    • Bà Lê Thị N, sinh năm: 1987; (có mặt)
    • Cùng địa chỉ: 60/1, ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
    • - Bà Lê Thị T, sinh năm: 1989; (có mặt)
    • Địa chỉ: 1 ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
  2. Bị đơn:
    • Ông Phạm Văn L, sinh năm: 1978; (có mặt)
    • Bà Đặng Thị L1, sinh năm: 1979; (vắng mặt)
    • Cùng địa chỉ: 5 ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre;
    • Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. (có yêu cầu vắng mặt)
  4. Có kháng nghị của: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N trình bày:

Vào năm 2015, vợ chồng ông Phạm Văn L và bà Đăng Thị L2 có đào ao nuôi tôm công nghiệp nhưng không có tiền, ông L và bà L2 có mượn vợ chồng ông Đ, bà N số tiền 120.000.000 đồng để đầu tư làm ao nuôi, do tôm bệnh chết nên bị thua lỗ.

Đến tháng 7 năm 2016, vợ chồng ông L và bà L2 có bàn với ông Đ, bà N hùn với nhau nuôi tôm công nghiệp trên phần đất của ông L đang nuôi công nghiệp, lời lỗ cũng chia đôi. Ông Đ, bà N đồng ý và bỏ vốn đầu tư cải tạo ao hồ các khoản và thả giống là 100.000.000 đồng, nuôi được 62 ngày thì tôm chết, thu hoạch được 385.000.000 đồng, trừ đi chi phí và chia lãi xong vợ chồng ông L và bà L2 mượn ông Đ, bà N thêm 170.000.000 đồng.

Đến tháng 3/2017, ông L và bà L2 nhờ mẹ ruột của ông Đ, bà N cầm cố quyền sử dụng đất với ngân hàng vay 100.000.000 đồng và tiếp tục cải tạo ao hồ, hai bên cùng nuôi tôm công nghiệp, vốn ông Đ, bà N bỏ ra, được 33 ngày thì tôm chết, hai bên phải chịu lỗ 130.000.000 đồng chia đôi nhưng ông L và bà L2 không có tiền trả bù lỗ cho ông Đ, bà N. Đến thời điểm này, vợ chồng ông L và bà L2 nợ ông Đ, bà N 355.000.000 đồng.

Đến tháng 10/2018, ông L bị tai nạn gãy chân, bà L2 yêu cầu mượn thêm 145.000.000 đồng. Tổng số tiền bị đơn nợ ông Đ, bà N là 500.000.000 đồng, ông L và bà L2 có cầm cố cho ông Đ, bà N 10.000m² thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, do ông Phạm Văn L đứng tên quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre (hai bên có làm hợp đồng bằng giấy tay), ông Đ, bà Nguyên canh T1 phần đất nêu trên từ năm 2018 cho đến nay.

Ngày 25/3/2023, ông L và bà L2 hỏi mượn thêm 60.000.000 đồng nên tổng số nợ ông L và bà L2 thiếu ông Đ, bà N là 560.000.000 đồng và ông L, bà L2 chấp nhận sang nhượng quyền sử dụng đất diện tích 10.000m² thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, do ông Phạm Văn L đứng tên quyền sử dụng đất, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre, ông L có trách nhiệm làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho ông Đ, bà N. Ngày 03/10/2023, giữa ông Đ, bà N và ông Phạm Văn L tiếp tục làm giấy tay sang nhượng đất.

Đến ngày 22/8/2023, ông L và bà L2 bị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú cưỡng chế, kê biên tài sản là thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, do ông Phạm Văn L đứng tên quyền sử dụng đất, trong phần đất kê biên này có liên quan đến 10.000m² đất mà vợ chồng ông L và bà L2 đã chuyển nhượng cho ông Đ, bà N.

Nay ông Đ, bà N yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết: Buộc ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất theo hợp đồng ngày 21/10/2018 giữa ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 với ông Đặng Văn Đ và bà Lê Thị N phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích là 8.919,9m² (ký hiệu thửa 58a) thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Phần diện tích đất còn thiếu là 1.080,1m² thì ông Đ, bà N đồng ý để ông L và bà L1 hoàn trả bằng giá trị theo giá của Hội đồng định giá đã định trong thời hạn 01 năm. Hết thời hạn trên mà ông L, bà L1 không trả thì ông Đ, bà N yêu cầu trả bằng diện tích đất.

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp cho Tòa án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Ngày 04/8/2019, ông Phạm Văn L có kêu bán 10.000m² đất cho bà và phải chồng đủ tiền mua đất để ông L trả nợ ngân hàng. Do bà không có đất nên đồng ý mua nên vào ngày 12/8/2019, bà đưa đủ số tiền là 750.000.000 đồng cho ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 (là vợ ông L), có sự chứng kiến của trưởng ấp A, xã A là ông Dương Văn M. Sau đó, bà đi đo đạc, tách đất và canh tác tới nay.

Trong thời gian chờ tách quyền sử dụng đất cho bà nhưng không được do hồ sơ bị Tòa án chặn, đến ngày 05/3/2020, cán bộ Thi hành án xuống nhà bà xác minh việc bà có mua đất của ông L hay không nên bà được biết lý do không chuyển nhượng đất cho bà được là do bà Đặng Thị L1 thiếu tiền hụi của bà Lê Thị L3 (ông L không biết, đất là đất của cá nhân của ông L).

Ngày 10/3/2020, bà có làm đơn kiện ông L đến Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú để yêu cầu tách đất. Quá trình giải quyết, ông L xác nhận có sang đất cho bà và đề nghị Tòa án cho sang tên cho bà. Sau đó, Tòa án kết hợp với Thi hành án và địa chính xã A xác minh phần đất trên và đúng là có sang bán cho bà. Tòa án có liên hệ với Thi hành án giải quyết là tách đất cho bà nhưng bên Thi hành án không chấp nhận, chỉ khi nào ông L và bà L1 trả tiền cho bà L3 xong mới giải quyết cho bà do ông L có liên đới với bà L1.

Ngày 22/8/2023, Thi hành án kết hợp các ban ngành xuống cưỡng chế đất ông L. Do có ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà nên nay yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết: Buộc ông L, bà L1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng đất đã ký kết ngày 12/8/2019 giữa bà với ông Phạm Văn L. Theo kết quả đo đạc ngày 15/01/2024, bà yêu cầu ông Phạm Văn L có nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có diện tích 10.003,3m² (ký hiệu thửa 58b) thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Phần diện tích dư là 3,3m² thì bà đồng ý hoàn trả lại cho ông L, bà L1 bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá.

Theo bản khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn ông Phạm Văn L trình bày:

Ông thừa nhận có mượn số tiền vợ chồng ông Đ, bà N tổng cộng là 560.000.000 đồng nên đồng ý sang nhượng một phần đất có diện tích 10.000m². Ông đã giao đất cho ông Đ, bà N sử dụng từ năm 2018. Nay ông Đ và bà N yêu cầu ông phải chuyển nhượng phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 8.919,9m² (ký hiệu thửa 58a) thuộc một phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre thì ông đồng ý. Phần diện tích còn thiếu là 1.080,1m² ông đồng ý hoàn trả lại ông Đ, bà N bằng giá trị theo giá của Hội đồng định giá trong thời hạn 01 năm.

Ông thừa nhận có bán cho bà T một phần đất có diện tích 10.000m², giá là 750.000.000 đồng và đã nhận tiền xong để trả nợ ngân hàng. Ông cũng đã giao đất cho bà T sử dụng kể từ ngày ông nhận đủ tiền. Nay bà T yêu cầu ông tiếp tục thực hiện chuyển nhượng phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích 10.003,3m² (ký hiệu thửa 58b) thuộc 01 phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre thì ông đồng ý. Đối với phần đất diện tích đo dư 3,3m² yêu cầu bà T trả cho ông bằng giá trị theo giá của Hội đồng định giá.

Tại Văn bản số 1132/CCTHADS ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú có nội dung:

Chi cục Thi hành án dân sự huyện thi hành bản án số 266/2019/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú và Quyết định thi hành án số 147/QĐ-CCTHADS ngày 15 tháng 10 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú. Nội dung ông Phạm Văn L, sinh năm 1978, bà Đặng Thị L1, sinh năm 1979, cùng địa chỉ 5 ấp A, xã A, huyện T có trách nhiệm liên đới trả cho bà Lê Thị L3, sinh năm 1982 cư trú tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre số tiền là 1.191.300.000 đồng và lãi chậm thi hành án. Ngoài ra, còn trả cho bà Phan Thị Mỹ L4 số tiền còn lại 55.404.650 đồng và lãi chậm thi hành án.

Qua xác minh, ông L, bà L1 có đứng tên thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, loại đất nuôi trồng thủy sản, diện tích 28.077,9m² (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02980 cấp ngày 31/7/2017) tọa lạc ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre; thửa số 98, tờ bản đồ số 22, loại đất ở tại nông thôn và trồng cây lâu năm diện tích 1.455,5m² (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02979 cấp ngày 31/7/2017) tọa lạc ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Do ông L, bà L1 có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành án nên ngày 22/8/2023, Chi cục Thi hành án dân sự huyện đã cưỡng chế kê biên diện tích đất 18.000,5m² thuộc một phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29 (Họa đồ kê biên thành thửa 59a), tọa lạc tại xã A.

Khi thực hiện việc kê biên xong, ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1981, địa chỉ ấp A, xã A và bà Lê Thị T, sinh năm 1989, địa chỉ ấp A, xã A cung cấp thông tin đã mua một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã A của ông L, bà L1. Do đó, Chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự huyện đã ban hành thông báo số 1022/TB-CCTHADS ngày 24/8/2023 để ông Đ, bà T khởi kiện tại Tòa án. Tại khoản 1 Điều 75 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà đương sự, người có tranh chấp khởi kiện tại Tòa án hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì việc xử lý tài sản được thực hiện theo quyết định của Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền”. Như vậy, Chi cục Thi hành án dân sự huyện sẽ xử lý tài sản tranh chấp nêu trên khi có quyết định của Tòa án. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án thì đề nghị Tòa án không xem xét cho ông L, bà L1 thỏa thuận nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã tuyên:

  • Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 129 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N, bà Lê Thị T đối với ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1. Cụ thể tuyên:

Buộc ông Phạm Văn L, bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N phần đất có diện tích 8.919,9m² (ký hiệu thửa 58a) thuộc một phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Buộc ông Phạm Văn L, bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng cho bà Lê Thị T phần đất có diện tích 10.003,3m² (ký hiệu thửa 58b) thuộc một phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Bà Lê Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 giá trị quyền sử dụng đất của diện tích 3,3m² với số tiền là 264.000 đồng (hai trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

Tất cả các phần đất nêu trên có họa đồ kèm theo.

Đương sự căn cứ nội dung quyết định của bản án để liên hệ cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục về quyền sử dụng đất theo quy định.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKSTP-DS kháng nghị toàn bộ Bản án số 209/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng hủy Bản án dân sự sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre giữ nguyên Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Nguyên đơn ông Đ, bà N, bà T không đồng ý với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, đồng ý giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn ông L không đồng ý với Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, đồng ý giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, tại công văn số 165/CCTHADS ngày 05/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có nội dung: Đề nghị Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng bằng giấy tay của các bên, lý do nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

  • Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
  • Về nội dung: Căn cứ khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, hủy Bản án sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre kháng nghị trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng nghị được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Đặng Thị L1 vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre có yêu cầu vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà L1 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

[2] Về nội dung:

Ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N yêu cầu ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo hợp đồng ngày 21/10/2018 giữa ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 với ông Đặng Văn Đ và bà Lê Thị N đối với phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích là 8.919,9m² (ký hiệu thửa 58a) thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Bà Lê Thị T yêu cầu ông L, bà L1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký kết ngày 12/8/2019 giữa bà Lê Thị T với ông Phạm Văn L đối với phần đất có diện tích 10.003,3m² (ký hiệu thửa 58b) thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Xét kháng nghị, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú cho rằng: thửa đất số 58 đang bị cưỡng chế kê biên để đảm bảo thi hành án cho bà Lê Thị L3 theo Bản án số 266/2019/DS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, việc giải quyết tranh chấp giữa ông Đ, bà N, bà T với ông L và bà L1 sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án là bà Lê Thị L3 nhưng Tòa án không đưa bà Lê Thị L3 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, hợp đồng sang nhượng đất ký ngày 03/10/2023 giữa ông L với ông Đ, bà N được xác lập sau Quyết định số 147/QĐ-CCTHADS ngày 15/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú về việc thi hành án theo yêu cầu của bà Lê Thị L3.

Xét thấy, thửa đất số 58 nêu trên bị cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Quyết định số 19/QĐ-CCTHADS ngày 02/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú để thi hành Bản án số 266/2019/DS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú và Quyết định thi hành án số 147/QĐ-CCTHADS ngày 15/10/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú. Trong khi đó, ông L với ông Đ và bà N đã viết giấy tay hợp đồng sang nhượng đất ký ngày 21/10/2018. Quá trình giải quyết vụ án, các bên thống nhất ông L đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất qua đo đạc thực tế có diện tích là 8.919,9m² (ký hiệu thửa 58a) thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre từ năm 2018. Bị đơn đã giao đất cho ông Đ, bà N quản lý, sử dụng từ năm 2018 cho đến nay và ông Đ, bà N đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng với giá 500.000.000 đồng. Riêng Hợp đồng sang nhượng đất ký tay ngày 03/10/2023 được xác lập là để bổ sung số tiền 60.000.000 đồng mà ông L đã mượn của ông Đ, bà N, tổng tiền nợ là 560.000.000 đồng nên phần đất chuyển nhượng cho ông Đ, bà N với giá là 560.000.000 đồng để cấn trừ nợ, đây không phải hợp đồng chuyển nhượng mới mà là hợp đồng bổ sung của hợp đồng chuyển nhượng ngày 21/10/2018 nên thực chất giao dịch chuyển nhượng được thực hiện từ ngày 21/10/2018. Bên cạnh đó, ông L, bà L1 với bà T, ông K viết giấy biên nhận tiền bán đất ký ngày 12/8/2019. Quá trình giải quyết vụ án, các bên thống nhất đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích là 10.003,3m² (ký hiệu thửa 58b) thuộc một phần của thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Bị đơn đã giao đất cho bà T, ông K quản lý, sử dụng từ ngày 12/8/2019 và bà T đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng với giá 750.000.000 đồng vào ngày 12/8/2019 dưới sự chứng kiến của Trưởng ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.

Như vậy, căn cứ vào sự thừa nhận của các bên phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định các bên đương sự đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất thuộc thửa số 58, tờ bản đồ số 29, toạ lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre từ trước khi thửa đất bị cưỡng chế kê biên theo Quyết định số 19/QĐ-CCTHADS ngày 02/3/2020 nói trên. Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã phát sinh và hoàn thành trên thực tế từ trước khi Bản án số 266/2019/DS-ST ngày 11/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xác lập nghĩa vụ trả nợ của ông L, bà L1 với bà Lê Thị L3 có hiệu lực và bà L3 yêu cầu thi hành án theo Quyết định số 147/QĐ-CCTHADS ngày 15/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú.

Xét về hình thức của các hợp đồng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng ... quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực”. Các hợp đồng chuyển nhượng đất nói trên đều không có công chứng, chứng thực nên xét hình thức hợp đồng không phù hợp với quy định pháp luật tại thời điểm ký hợp đồng. Tuy nhiên, các bên thống nhất đã thực hiện giao tiền chuyển nhượng xong và đã giao đất cho bên nhận chuyển nhượng quản lý, sử dụng từ khi chuyển nhượng đến nay nhưng chưa thực hiện sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng được. Như vậy, các bên đã hoàn tất 2/3 nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”, Hội đồng xét xử xác định giao dịch chuyển nhượng đất giữa các bên được công nhận và đã xác lập từ trước khi bản án của bà L3 khởi kiện có hiệu lực pháp luật nên việc bà L3 không tham gia tố tụng trong vụ án này sẽ không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà L3.

[2.2] Ngoài ra, theo kháng nghị còn cho rằng giấy biên nhận tiền bán đất còn có chữ ký của ông Huỳnh Phúc K (là chồng bà T) ký tên nhận chuyển nhượng nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông K vào tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo quy định khoản 2, khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, ông K đã có văn bản ủy quyền cho bà T toàn quyền giải quyết vụ việc về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông L. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định ông K không có ý kiến và không có yêu cầu gì trong vụ án này, việc Tòa án không đưa ông K vào tham gia tố tụng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông K. Do bà T là người đại diện theo ủy quyền của ông K xác nhận việc ông K không tham gia tố tụng không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông K nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông K vào tham gia tố tụng không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, vì vậy, kháng nghị về vấn đề nêu trên là không có cơ sở.

[2.3] Kháng nghị còn có nội dung xác định ông L đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/10/2018 cho ông Đ và bà N trong khi thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre đang bị thế chấp quyền sử dụng đất làm tài sản bảo đảm tại Ngân hàng nên cần phải làm rõ hồ sơ thế chấp liên quan đến thửa đất số 58. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết thu thập, làm rõ việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên trong vụ án này vì các bên không có tranh chấp về hợp đồng thế chấp và hiện tại đã hoàn tất việc xóa đăng ký thế chấp đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập, làm rõ quá trình thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung vụ án này. Vì vậy, nội dung kháng nghị nêu trên là không có cơ sở.

[3] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[5] Tại bản án sơ thẩm đã tuyên về án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) do ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ liên đới nộp. Xét thấy, đối tượng tranh chấp của vụ án là 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, gồm 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà L1 với ông Đ, bà N đối với một phần thửa đất số 58 và 01 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L, bà L1 với bà T, ông K đối với một phần thửa đất số 58 còn lại, do yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn đối với 02 hợp đồng chuyển nhượng trên được chấp nhận nên ông L, bà L1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với mỗi hợp đồng là 300.000 đồng. Do Bản án sơ thẩm tuyên án phí không phù hợp nên Hội đồng xét xử điều chỉnh lại án phí dân sự sơ thẩm cho phù hợp quy định, cụ thể án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch tổng cộng là 600.000 đồng do ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ liên đới nộp.

[6] Các đương sự không có kháng cáo, không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ các điều 129, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 147, 148 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N, bà Lê Thị T đối với ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1.
    • Buộc ông Phạm Văn L, bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N phần đất có diện tích 8.919,9m² (ký hiệu thửa 58a) thuộc một phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
    • Buộc ông Phạm Văn L, bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Lê Thị T phần đất có diện tích 10.003,3m² (ký hiệu thửa 58b) thuộc một phần thửa đất số 58, tờ bản đồ số 29, tọa lạc tại xã A, huyện T, tỉnh Bến Tre.
    • Bà Lê Thị T có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 giá trị quyền sử dụng đất của diện tích 3,3m² với số tiền là 264.000đ (hai trăm sáu mươi bốn nghìn đồng).

    (Tất cả các phần đất nêu trên có họa đồ thửa đất kèm theo).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Đương sự căn cứ nội dung quyết định của bản án để liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục về quyền sử dụng đất theo quy định.

  2. Về chi phí đo đạc, định giá, thu thập tài liệu, chứng cứ với số tiền là 15.489.700đ (mười lăm triệu bốn trăm tám mươi chín nghìn bảy trăm đồng):

    Ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị T và ông Phạm Văn L mỗi người phải có nghĩa vụ chịu một phần là 5.163.000đ (năm triệu một trăm sáu mươi ba nghìn đồng). Do ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị T đã nộp tạm ứng trước nên ông Phạm Văn L có nghĩa vụ hoàn lại cho ông Đặng Văn Đ số tiền 2.581.500đ (hai triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng) và hoàn lại cho bà Lê Thị T số tiền 2.581.500đ (hai triệu năm trăm tám mươi mốt nghìn năm trăm đồng).

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch:

    Ông Phạm Văn L và bà Đặng Thị L1 có nghĩa vụ liên đới nộp tổng cộng là 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng).

    Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hoàn lại cho ông Đặng Văn Đ, bà Lê Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000293 ngày 09/11/2023.

    Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hoàn lại cho bà Lê Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000161 ngày 04/10/2023 và số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003410 ngày 05/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

  4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Thạnh Phú;
  • - CCTHADS huyện Thạnh Phú;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/DS-PT ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 101/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chap hop dong chuyen nhuong quyen su dung dat giua Dang Van D va Pham Van L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger