TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16 – 12 – 2024 V/v tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Á
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trương Ngọc Điệp
- Bà Lê Thanh Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Tuấn Vũ – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền T - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2024/TL.ST-HNGĐ, ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 178/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1966. Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Châu Ngọc P, sinh năm 1966. Vắng mặt
Địa chỉ: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:
Bà và ông Châu Ngọc P có quen biết và tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu bà và ông P chung sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng đến thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp và còn thường xuyên cãi nhau. Đến năm 2019 thì bà và ông P đã ly thân cho đến nay. Nhận thấy cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Châu Ngọc P.
Về con chung: Có 02 con chung là cháu Châu Ngọc H (nữ), sinh ngày 03/3/1998, cháu Châu Ngọc D (nam), sinh ngày 24/9/1996. Do các cháu hiện đã trưởng thành và có khả năng lao động nên bà không có yêu cầu giải quyết về vấn đề nuôi dưỡng.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Châu Ngọc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên chưa ghi nhận được ý kiến.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Xác định việc thụ lý, hòa giải, thu thập chứng cứ cũng như thủ tục tố tụng tại phiên tòa của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị Đ và ông Châu Ngọc P là vợ chồng; Về con chung: Do các con chung đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết về vấn đề nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị Đ và ông Châu Ngọc P chung sống như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định. Nay hai bên phát sinh mâu thuẫn nên bà Đ yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với ông P. Căn cứ theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự là vụ án hôn nhân và gia đình về việc không công nhận quan hệ vợ chồng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, ông Châu Ngọc P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, bà Phạm Thị Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp.
[3] Về nội dung giải quyết vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bà Đ, ông P tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn và hiện tại bà Đ, ông P đã sống ly thân nên bà Đ khởi kiện yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông P. Đến thời điểm xét xử vụ án các đương sự vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 không công nhận bà Phạm Thị Đ và ông Châu Ngọc P là vợ chồng.
[3.2] Về con chung: Do các cháu hiện đã trưởng thành, có khả năng lao động và bà Đ không có yêu cầu giải quyết về vấn đề nuôi dưỡng nên không xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Từ những tình tiết, căn cứ nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 14, Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị Đ và ông Châu Ngọc P là vợ chồng.
2. Về con chung: Không xem xét giải quyết.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết, nếu sau này có phát sinh tranh chấp đương sự có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Đ phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng). Chuyển 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà Đ đã nộp theo biên lai số 0004710 ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A thành tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm (bà Đ đã nộp xong).
5. Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Hậu Giang; - Các đương sự; - CQ THA DS h.Châu Thành A; - VKSND h.Châu Thành A; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Á |
Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HON
