|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2024/HS-ST Ngày 27/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chương và ông Phan Văn Minh
Thư ký Tòa án: Bà Nguyễn Thị Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cường - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 27/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 332/2024/QĐXXST-HS ngày 15/11/2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 22/8/1989 tại tỉnh Gia Lai. Nơi thường trú và chỗ ở: Plei Kte Lớn A, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Làm nông; Học vấn: 06/12; Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Cha tên: Trần Văn Đ, sinh năm: 1947; mẹ tên Nguyễn Thị X, sinh năm: 1949 (chết); vợ tên Siu H (sinh năm: 1993). Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 30/11/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xử 06 năm tù giam, về tội “Hiếp dâm”. Chấp hành án tại Trại giam G đến ngày 31/8/2011 ra trại về địa phương làm ăn sinh sống (đã được xóa án tích).
Ngày 04/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử 10 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Chấp hành án tại Trại giam G đến ngày 03/11/2012 ra trại về địa phương làm ăn sinh sống (đã được xóa án tích).
Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- - Anh Rmah U, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh Rmah S, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- - Anh Kpă T1, sinh năm 2001; địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12/3/2024, Trần Văn T đi bẫy chuột tại khu vực sông A, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai thì nhặt được 01 bì nilon bên trong có chứa khoảng 150 gam thuốc nổ và 01 kíp nổ chưa sử dụng nên T mang về nhà với mục đích làm quả nổ đánh cá. T mang thuốc nổ nén vào một vỏ lon kim loại (loại cá hộp), rồi gò kín miệng lon lại và bỏ cùng với kíp nổ vào trong bì nilon đen, rồi đặt dưới gầm tủ quần áo trong phòng ngủ nhà mình.
Đến khoảng 04h30' ngày 13/3/2024 T gọi điện thoại cho Rmah U (sinh năm: 2000; trú tại: Thôn P, xã I, huyện P) rủ U đi cùng T đến khu vực sông B thuộc xã K, huyện I để đánh bắt cá thì U đồng ý, Tân dặn U mang theo bao tải để bắt kiến vàng. T mang theo 01 lon kim loại đã nén thuốc nổ, 01 kíp nổ chưa sử dụng (loại kíp kích nổ bằng điện), 01 cặp pin con thỏ, 01 dây điện màu xanh dài 07m, 01 cái đinh (loại 10 cm) và 01 khúc gỗ dài khoảng 30 cm tất cả bỏ vào một bì nilon màu đen rồi bỏ vào trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 81D1-241.64 của T rồi điều khiển xe đến nhà U chở U đi đánh bắt cá.
Khoảng 06h00' cùng ngày, T và U đến khu vực sông B thuộc thôn M, xã K, huyện I, tỉnh Gia Lai để đánh bắt cá. T nói U đi bắt kiến vàng, còn T đi tìm điểm có nhiều cá để đánh bắt.
Đến khoảng 07h30', T lấy các vật liệu nổ và vật dụng trong cốp xe ra để làm quả nổ đánh cá. Tuy nhiên, trong lúc T đang sử dụng đinh đóng vào ống kim loại để gắn kíp thì bị phát nổ làm T và U bị thương (Lúc này U đi từ đằng xa vừa mới đến bên cạnh T, cách khoảng 1m), T bị tổn thương cơ thể 90%, Uyn ở gần Tân thì bị tổn thương cơ thể 08%.
Khi đang làm rẫy (cách khoảng 500 m) thì các anh Rmah S, Kpă T1 và Rơ Ô L (cùng trú tại: Thôn M, xã K, huyện I) nghe tiếng nổ nên đến hiện trường thì thấy T và U bị thương tích nặng. Trần Văn T đã nhờ anh S điện thoại cho vợ T là Siu H1 (sinh năm: 1993, trú tại: Thôn P, xã I, huyện P) đến để đưa T và U đi cấp cứu. Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện I tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan, trưng cầu giám định chất nổ và tỷ lệ thương tích đối với Trần Văn T và Rmah U.
* Kết luận giám định:
Tại Bản kết luận giám định số 620/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trong các mẫu kim loại và nilon gửi giám định đều tìm thấy dấu vết của thuốc nổ công nghiệp (Amoni nitrat: NH4NO3). Không đủ căn cứ để xác định loại thuốc nổ gì.
Tại Bản kết luận giám định số 734/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Trong các mẫu nghi máu và mô người gửi giám định có máu của Trần Văn T và Rmah U.
Tại kết luận giám định số 266/KLTTCT-TTPY ngày 21/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn T tại thời điểm giám định là 90%; Cơ chế và vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động trực tiếp của vật liệu cháy. (Bút lục số 105-108)
Tại kết luận giám định số 304/KLTTCT-TTPY ngày 21/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh G, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Rmah U tại thời điểm giám định là 8%; Cơ chế và vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động trực tiếp của vật liệu cháy. (Bút lục số 109-110)
Ngày 15/7/2024, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh G đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự và ngày 29/7/2024 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Trần Văn T về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại Khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.
* Vật chứng thu giữ: 03 mảnh kim loại màu đen (nghi có dấu vết của thuốc nổ); 05 mảnh nilon màu trắng, bị cháy nham nhở (nghi có dấu vết của thuốc nổ); 03 mẫu mô (nghi mô của nạn nhân); 01 đoạn thực vật bám chất màu nâu (nghi là máu nạn nhân); 02 vết màu nâu đỏ dính nhiều đất đã khô (nghi là máu của nạn nhân).
* Về dân sự: Rmal Uyn đã có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với Trần Văn T.
Tại Cáo trạng số 144/CT-VKSGL-P1 ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự.
-
Diễn biến tại phiên toà:
- * Bị cáo Trần Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, thấy có tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
- * Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ vật chứng do không có giá trị sử dụng.
- Về án phí: Buộc Trần Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 12/3/2024, bị cáo Trần Văn T nhặt được 01 bì nilon bên trong có chứa khoảng 150 gam thuốc nổ và 01 kíp nổ nên đã lấy thuốc nổ nén vào một vỏ lon kim loại (loại cá hộp), rồi gò kín miệng lon lại và bỏ cùng với kíp nổ vào trong bì nilon đen, rồi cất giấu với mục đích sử dụng. Ngày 13/3/2024, bị cáo rủ Rmah U cùng đến khu vực sông B để đánh bắt cá, khi bị cáo đang thao tác đóng vào quả nổ thì quả nổ phát nổ. Hậu quả, bị cáo thương tích tỷ lệ 90%, anh Rmah U bị thương tích tỷ lệ 08%.
Kết luận giám định đều tìm thấy dấu vết của thuốc nổ công nghiệp (Amoni nitrat: NH4NO3). Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T thuộc trường hợp nghiêm trọng, vi phạm quy định về quản lý, sử dụng vật liệu nổ, gây thiệt hại sức khoẻ của bị cáo và anh U, gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bản thân bị cáo bị thương tích 90% và bị mất nhiều bộ phận trên cơ thể, bị cáo có một người con bị hạn chế vận động, khuyết tật nặng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, có nhân thân nhiều lần bị xét xử nay lại tiếp tục phạm tội nên cần xử bị cáo mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, xem xét thương tật của bị cáo 90%, hoàn cảnh gia đình bị cáo có con bị khuyết tật, bản thân bị cáo cũng khó có thể vận động bình thường, mất nhiều bộ phận trên cơ thể nên nhiều vết thương có thể phải tiếp tục điều trị. Do đó, Hội đồng xét xử khoan hồng hơn đối với bị cáo, xử bị cáo hình phạt tù với mức án thấp trong đề nghị của Kiểm sát viên để bị cáo sớm chấp hành xong hình phạt, có điều kiện điều trị và lo cho gia đình.
[5] Về dân sự: Anh Rmal U1 đã có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại, không yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với Trần Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật liên quan đến tội phạm, không có giá trị sử dụng gồm: 03 mảnh kim loại, 05 mảnh ni lông, mẫu máu, 01 đoạn thực vật (cây le), mẫu mô, mẫu tóc.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về các đối tượng và tình tiết khác liên quan:
Đối với hành vi của bị cáo thao tác sử dụng vật liệu nổ, gây thương tích cho anh Rmah U đã thu hút về hành vi “Sử dụng trái phép vật liệu nổ” như Cáo trạng, Bản kết luận điều tra là có căn cứ, đúng tội, không truy tố thêm tội khác.
Đối với Rmah U, được Trần Văn T rủ đi đánh cá, U không sử dụng vật liệu nổ, không giúp sức cho T trong việc sử dụng vật liệu nổ. Do đó, Cơ quan An ninh điều tra không xử lý hình sự đối với R là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
-
Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01(một) phong bì giấy in “BỘ CÔNG AN – VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ”, tại mép dán niêm phong bằng hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng và các chữ ký của Lê Hồng P, Kpă K. (Theo Biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định hồi 15 giờ 30 phút ngày 25/4/2024 tại Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng). Bên trong có chứa:
- + Phần còn lại của 03 (ba) mảnh kim loại (có kích thước khác nhau, đã bị bóp méo, gờ mép các mảnh có dấu vết bị xé rách).
- + Phần còn lại của 05 (năm) mảnh nilon trong suốt (có kích thước khác nhau, xung quanh gờ mép bị cháy nham nhở).
- - 01 (một) phong bì dán kín, đóng dấu niêm phong của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng và các chữ ký của Hoàng Văn M, Kpă K (Theo Biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định hồi 16 giờ 00 phút ngày 24/4/2024 tại Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng). Bên trong có chứa:
- + Phần còn lại mẫu ghi vết màu nâu đỏ dính nhiều đất đã khô nghi máu (mẫu tạp chất, đất màu nâu).
- + 01(một) đoạn thực vật ghi cây le, đã bị chẻ mảnh (dạng cây tre được chẻ mảnh) dài 67 cm, phần lớn nhất rộng 0,7cm, phần nhỏ nhất rộng 0,3cm, bám dính chất màu nâu đỏ.
- + 03 (ba) mẫu nghi mô nạn nhân (các mảnh dạng mô màu nâu).
- + Mẫu tóc ghi thu của Trần Văn T.
- + Mẫu tóc ghi thu của Rmah U.
(Các vật nêu trên có đặc điểm ghi tại biên bản bàn giao vật chứng số 12/2025 lập ngày 11/11/2024 giữa Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh G với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).
- - 01(một) phong bì giấy in “BỘ CÔNG AN – VIỆN KHOA HỌC HÌNH SỰ”, tại mép dán niêm phong bằng hình dấu tròn màu đỏ của Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng và các chữ ký của Lê Hồng P, Kpă K. (Theo Biên bản đóng gói niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định hồi 15 giờ 30 phút ngày 25/4/2024 tại Phân viện Khoa học hình sự tại TP Đà Nẵng). Bên trong có chứa:
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Hồng |
Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 110/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, sử dụng trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T- Sử dụng trái phép vật liệu nổ
