|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 6 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Phước Công, Ông Nguyễn Văn Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Ông Dương Duy Tín - Kiểm sát viên.
Ngày 6 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 124/2024/TLST-HS ngày 9 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Trần Thị Mai T, sinh năm 1968, nơi sinh: huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Mua bán; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); chồng Nguyễn Thanh H (đã chết) và có 02 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Ngày 07/11/2020, bị Công an thị trấn C xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”, đã nộp phạt. Bị tạm giam từ ngày 10/8/2023 đến nay, tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Mai T: Bà Hồ Hoàng P Luật sư – Văn phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh A. Địa chỉ số A đường T, tổ A, khóm B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có mặt.
-
Nguyễn Thị Hạnh E, sinh năm 1984; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); chồng: Lê Văn T2 - sinh năm 1980, có 03 người con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giam từ ngày 13/01/2024 đến nay, tại Trại tạm giam - Công an tỉnh A. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1965; nơi cư trú: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Ông Hồ Mạnh H3, sinh năm 1963; nơi cư trú: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Bà Võ Thị Ngọc L, sinh năm 1977; nơi cư trú: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Mai T3, sinh năm 1995; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, Trần Thị Mai T từ nhà đến tụ điểm lắc tài xỉu tại ấp L, xã L để bán số lô, số đề. T dùng tài khoản Zalo “Thảo T4” nhắn tin, bán số lô, số đề cho nhiều người, dựa trên kết quả xổ số miền N, gồm các đài: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cà Mau, với tổng số tiền 51.765.000 đồng. Trong đó, bán cho Nguyễn Thị Hạnh E 22.780.000 đồng, Nguyễn Thị Thu H2 1.850.000 đồng, Hồ Mạnh H3 540.000 đồng, “Kim Thoa” 3.510.000 đồng, “Thu Cồn” 755.000 đồng; mua của “Nguyễn Hoàng V” 22.330.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Phòng C - Công an tỉnh A bắt quả tang tụ điểm lắc tài xỉu, qua đó phát hiện T có hành vi bán số lô, số đề, mời về trụ sở Công an làm việc, T khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG của T; số tiền 22.780.000 đồng của H6 giao nộp.
Kết luận giám định số 117/KL-KTHS(KTSĐT-GT) ngày 11/5/2023 và số 91/KL-KTHS ngày 05/02/2023 của Phòng C - Công an tỉnh A: Tìm thấy dữ liệu lưu trữ trong: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG do Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C gửi giám định, chi tiết thể hiện trong phụ lục và đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo.
Tại Cáo trạng số: 32/CT-VKSCM-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo T về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, bị cáo Hạnh E về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng có lời trình bày phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2, 3 Điều 321; các điểm s khoản 1, Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo T 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù; Về hình phạt bổ sung phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1, Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hạnh E 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.
Người bào chữa của bị cáo T đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc truy tố bị cáo T về tội “Đánh bạc” không tranh luận về tội danh; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; vì bị cáo T không có tình tiết tăng nặng, không có tiền án tiền sự, khi thực hiện tội phạm không thu lợi bất chính, do ít học nên nhận thức pháp luật hạn chế đề nghị xét xử bị cáo với mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Các bị cáo không bào chữa và tranh luận gì khác, nói lời sau cùng cả hai bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.1] Để xác định đúng tính chất vụ án và tránh bỏ lọt người phạm tội, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới đã 02 (hai) lần trả hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới để điều tra bổ sung đối với các vấn đề:
-
[1.1.1] Căn cứ vào tài liệu chứng cứ từ đĩa DVD để làm rõ hành vi của Nguyễn Thị Mai T3 có dấu hiệu đồng phạm với Trần Thị Mai T với vai trò là người giúp sức cho T thực hiện hành vi “Đánh bạc” hay không. Trường hợp có đủ căn cứ chứng minh, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
-
[1.1.2] Căn cứ vào tài liệu chứng cứ từ đĩa DVD để làm rõ việc việc chuyển tiền qua tài khoản số 0111492290 tại Ngân hàng Đ do ai đứng tên, các giao dịch chuyển tiền đi, đến và liên quan đến các đối tượng “Do Thi Thuy H4”.
-
[1.1.3] Căn cứ vào tài liệu chứng cứ từ đĩa DVD để làm rõ việc có việc chuyển giao nhận phơi đề giữa Trần Thị Mai T với đối tượng có số điện thoại 0358.982.xxx được lưu trong điện thoại của Trần Thị Mai T với tên là: “Trung T L1” (tài khoản Zalo Nguyễn Hoàng V) để làm rõ hành vi của đối tượng “Trung T L1” có dấu hiệu đồng phạm với Trần Thị Mai T với T thực hiện hành vi “Đánh bạc” hay không. Trường hợp có đủ căn cứ chứng minh, đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
[1.2] Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C và Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ và xác định Nguyễn Thị Mai T3 không biết mục đích T gửi hình phơi đề qua Zalo để làm gì, T3 không tham gia, không giúp sức cho T bán số lô, số đề, nên không xử lý T3. Đối với đối tượng “Do Thi Thuy H4” và đối tượng có số điện thoại 0358.982.xxx được lưu trong điện thoại của Trần Thị Mai T với tên là: “Trung T L1” (tài khoản Zalo Nguyễn Hoàng V) qua xác minh chưa xác định được danh tính cụ thể nên chưa có cơ sở xác định dấu hiệu đồng phạm với T. Do đó, căn cứ Điều 227, khoản 3 Điều 280, khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án; đồng thời kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét các nội dung được nêu tại mục [1.1.2], [1.1.3] theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 15 giờ 30 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 20/02/2023, tại ấp L, xã L, huyện C, các bị cáo T, Hạnh E đã có hành vi đánh bạc trái phép ăn tiền dưới hình thức mua bán số đề. Tổng số tiền bị cáo Trần Thị Mai T sử dụng vào việc đánh bạc là 51.765.000 đồng; trong đó bị cáo Hạnh E mua số lô, số đề của T bán là 22.780.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 3 năm đến 7 năm; bị cáo Hạnh E đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình. Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Trong vụ án, các bị cáo đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh bạc trái phép nên được xác định là đồng phạm nhưng không có sự câu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là chủ đề nên phải chịu trách nhiệm chính của vụ án; còn bị cáo Hạnh E là người thực hành tội phạm tích cực. Các bị cáo T và Hạnh E đều là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm với mục đích nhằm ăn thua, sát phạt lẫn nhau. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội mà mình đã gây ra.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; bị cáo Hạnh E phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; bị cáo Hạnh E đã tự nguyện giao nộp lại số tiền đánh bạc. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo T trực tiếp bán số đề ăn thua với nhiều người; sau khi thực hiện hành vi vi phạm đã xóa bỏ các lịch sử liên lạc trên điện thoại di động nhằm đối phó cơ quan chức năng, bị cáo có nhân thân xấu, ngày 07/11/2020, bị Công an thị trấn C xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng, về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo Hạnh E trong một ngày mua nhiều số lô, số đề của bị cáo T. Do đó, việc cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương sẽ không có tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy bị cáo T có thời gian bán số lô số đề đã lâu, việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[5] Đối với người có liên quan trong vụ án gồm:
Nguyễn Thị Thu H2, Trần Mạnh H5 tham gia đánh bạc trái phép nhưng chưa đủ định lượng và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc” nên chuyển xử lý hành chính theo quy định.
Võ Thị Ngọc L nhắn tin mua số lô, số đề nhưng bị cáo T chưa trả lời, chưa bán số cho L nên không xử lý là phù hợp.
Đối với người có tên tài khoản Z “Kim Thoa”, “Thu Cồn” mua số lô, số đề của T, hiện chưa xác định được nhân thân họ tên, địa chỉ cụ thể, chưa làm việc, tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.
Đối với Nguyễn Thị Mai T3 là con bị cáo T biết bị cáo T bán số lô, số đề và được T nhờ giúp cộng số, cộng tiền nhưng T3 không phụ giúp. Ngoài ra vào ngày 20/02/2023 T3 có đến nhà của H6 Em lấy số tiền 22.780.000 đồng là do bị cáo T kêu đến gặp Hạnh E để lấy tiền, khi đó T không nói là tiền gì nên T3 mới đến nhà Hạnh E và nói “Mẹ con kêu lấy tiền dùm” sau đó H6 Em đưa cho T3 số tiền 22.780.000 đồng, sau đó 2 ngày thì T3 đã đem trả số tiền trên lại cho Hạnh E. Cơ quan điều tra không có tài liệu chứng minh Nguyễn Thị Mai T3 có dấu hiệu đồng phạm, giúp sức T thực hiện hành vi đánh bạc.
Dữ liệu lưu trữ trong điện thoại di động thu của bị cáo T chi tiết thể hiện trong phụ lục và đĩa DVD dữ liệu trích xuất kèm theo. Qua xem xét có file hình ảnh, file âm thanh có liên quan đến số lô, số đề, qua điều tra bị cáo T trình bày bắt đầu bán số lô, số đề từ khoảng năm 2019 (không nhớ ngày tháng) bán không liên tục đến khoảng năm 2021, 2022 thì nghĩ nên không nhớ cụ thể bán cho ai, vào thời gian nào, đài nào; nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở chứng minh bị cáo T có hành vi phạm tội đánh bạc trước thời điểm ngày 20/02/2023 nên không xem xét xử lý.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại đi động đã thu giữ của các bị cáo T, quá trình điều tra và phiên tòa xác định đây là công cụ các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 51.765.000 đồng là tiền các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; trong đó bị cáo Hạnh E đã nộp lại là 22.780.000 đồng còn lại 28.985.0000 đồng cần buộc bị cáo T giao nộp lại số tiền 28.985.0000 đồng để tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thị Mai T và Nguyễn Thị Hạnh E phạm tội “Đánh bạc”.
-
Căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thị Mai T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2023.
Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Phạt bổ sung bị cáo Trần Thị Mai T số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng sung vào ngân sách Nhà nước.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H6 Em 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2024.
-
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu bán phát mại sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG. (Đặc điểm theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 5/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 22.780.000 đồng theo biên lai thu số 0006602 ngày 6/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
Buộc bị cáo Trần Thị Mai T phải giao nộp số tiền 28.985.000 (hai mươi tám triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn) đồng để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
-
Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Trần Thị Mai T và Nguyễn Thị Hạnh E mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về đánh bạc
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo có hành vi bán số lô, số đề
