Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày 31-10-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH- TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thành và bà Vũ Thị Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Phú - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Đức và ông Hoàng Đắc T- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường Ủy ban nhân dân phường V, thành phố C, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bùi Bá B, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: KDC M, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Chỗ ở: Khu dân cư K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Bùi Bá V và bà Dương Thị Xạ . Có vợ Nguyễn Thị T1, có 01 con sinh năm 2012.

Tiền án: Bản án số 15/2021/HS-ST ngày 16/3/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh xử phạt 30 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, ngày 12/5/2021 thi hành xong án phí dân sự. Ngày 16/6/2023 B chấp hành xong hình phạt tù (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không

Nhân thân:

- Bản án số 15/HS-ST ngày 20/4/2009 của Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Ngày 10/4/2010, B chấp hành xong hình phạt tù, ngày 17/4/2010, thi hành án dân sự ngày 20/4/2009.

- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12 ngày 15/11/2014 của Công an phường C về hành vi Đánh bạc. Ngày 18/11/2014, B thi hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024, đến ngày 22/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Văn H, sinh năm 1982.

Nơi cư trú: Thôn T, xã B, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh. Chỗ ở: Số nhà G đường N, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 9/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị S, có vợ Nguyễn Thị H1, có 01 con sinh năm 2017.

Tiền án:

- Ngày 31/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 28/HSST. Ngày 13/11/2016 chấp hành xong hình phạt tù, án phí dân sự ngày 08/9/2014.

- Ngày 14/8/2017 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt 07 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 66/HS-ST ngày 14/8/2017. Ngày 21/12/2023, H chấp hành xong hình phạt tù,. Tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 31/3/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương xử phạt 15 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Trốn khỏi nơi giam” theo Bản án số 24/HSST. H chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/10/2002; án phí dân sự ngày 23/3/2009.

- Ngày 23/11/2004, bị Tòa án nhân dân huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản” theo Bản án số 41/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/3/2013, án phí dân sự ngày 14/11/2007.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2024, đến ngày 22/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời nên tối ngày 06/6/2024, Nguyễn Văn H đi đến khu vực tượng đài thuộc thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh mua 2.000.000 đồng tiền ma túy của một người đàn ông (không rõ nhân thân và địa chỉ) được 01 túi nilon ma túy. Sau khi mua được ma túy, H đi về phòng trọ của mình ở tại: Số nhà G đường N, khu dân cư H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương (H thuê của chị Vũ Thị Y, sinh năm 1981 trú tại: KDC H, phường S, thành phố C, tỉnh Hải Dương). Tối ngày 08/6/2024, có Bùi Bá B gọi điện thoại di động qua ứng dụng Zalo cho H hỏi “anh còn hàng không, để em ít” (ý B muốn hỏi H còn ma túy không, bán cho B), H trả lời “Còn, nói” (ý H là còn ma túy, và hỏi B mua bao nhiêu), B trả lời “em còn tám trăm”, H hỏi “chuyển khoản hay tiền mặt”, B trả lời “chuyển khoản”, sau đó B sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển cho H số tiền 800.000 đồng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, H cầm 01 gói ma túy xuống phòng trọ của B ở: KDC K Trên, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương (thuê của ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1965, trú tại Khu dân cư K, phường T) đưa cho B. Khoảng 15 giờ ngày 13/06/2024, H xuống chơi nên B bỏ bộ dụng cụ sử dụng ma túy nhặt được trước đó ra, đổ gói ma túy mua được của H vào coóng để B và H cùng sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, khi cả hai đang sử dụng ma túy thì Bùi Thị B1, sinh năm: 1995, HKTT: KDC G, phường T đến phòng trọ chơi. Thấy vậy B rủ B1 vào sử dụng ma túy thì B1 đồng ý nên B châm ma túy cho B1 sử dụng. Khoảng 17 giờ cùng ngày B1 và H ra về. Đến khoảng 16 giờ ngày 15/06/2024, B đi cùng B1 về phòng trọ, B lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy vẫn còn từ hôm trước từ trên thành cửa sổ xuống rồi châm ma túy để B và B1 sử dụng. Khoảng 30 phút thì B1 ra về, B cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy dưới gầm giường. Đến 15 giờ ngày 18/06/2024, khi B đang ở phòng trọ thì lực lượng Công an vào kiểm tra lập biên bản thu giữ trong gầm giường: 01 lọ thủy tinh, chiều cao 7cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp lọ làm bằng kim loại, màu vàng, được đục hai lỗ, một lỗ được gắn ống hút nhựa màu tím dài 4cm, lỗ còn lại được gắn ống hút nhựa cao su, màu trắng đục dài 2cm; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ống hút nhựa màu tím, chiều dài 33,5cm; 01 coóng thủy tinh hình móc câu dài 12,5cm, phần móc câu dài 6,5cm, phần bầu coóng có bám dính chất cặn màu đen và 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (2,5x2,5)cm, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thứ nhất. Bùi Bá B tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động, kiểu máy Galaxy A04, màu đen, bên trong lắp sim 1 0862.884.987

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H, Lực lượng Công an đã thu giữ: 03 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước lần lượt là (10x15,5)cm, (2,5x2,5)cm và (2,5x2,5)cm, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong trong bì thứ hai). Nguyễn Văn H tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động, kiểu máy Iphone Xs Max, màu vàng, bên trong lắp sim số 0965.610.354

- Tại Bản kết luận giám định số: 316/KL - KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận:

+ Quá trình giám định có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong mẫu chất màu đen bám dính bên trong coóng thủy tinh, được niêm phong trong phong bì thứ nhất gửi đến giám định. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

+ Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ được niêm phong trong phong bì thứ nhất, gửi đến giám định, là ma túy, loại Methamphetamine. Lượng mẫu bám dính rất nhỏ nên không xác định được khối lượng.

+ Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong 03 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, được niêm phong trong phong bì thứ hai, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,994g ma túy, loại Methamphetamine

Việc thu giữ đồ vật, tài liệu, xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố C đã nhập kho vật chứng: 01 coóng thủy tinh dài 12,5cm; 01 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, kích thước (2,5x2,5)cm; 03 túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ, 01 túi có kích thước (10x15,5)cm; 02 túi có kích thước (2,5x2,5)cm được niêm phong trong phong bì thư số: 316/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh H, hoàn lại sau giám định. 01 lọ thủy tinh, chiều cao 7cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp của lọ bằng kim loại màu vàng được đục 02 lỗ; 02 ống hút nhựa, màu tím, chiều dài lần lượt là 4cm, 33,5cm; 01 ống hút bằng cao su, màu trắng đục, dài 2cm; 01 bật lửa ga, màu đỏ; 01 ví da, màu hồng; 01 điện thoại di động, kiểu máy Iphone Xs Max, màu vàng, bên trong gắn sim số 0965.610.354; 01 điện thoại di động, kiểu máy Galaxy A04, màu đen, bên trong lắp sim 1 số 0862.884.987 chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 104/CT-VKS-CL ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố Bùi Bá B về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không thắc mắc gì về nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Bá B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ”; bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy "

+ Về điều luật và hình phạt:

- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Bá B.

Xử phạt bị cáo Bùi Bá B từ 08 năm 02 tháng đến 08 năm 08 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.

- Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 năm 01 tháng đến 07 năm 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp, thu nhập, không có khả năng thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 316KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 616 ngày 19/6/2024, góc phải ký hiệu T1, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa: 01 cóong thuỷ tinh, 01 túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 01 vỏ phong bì thứ nhất niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 316KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 616 ngày 19/6/2024, góc phải ký hiệu T2, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa: 0,886 gam ma tuý loại Methamphetamine, 03 vỏ túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 01 vỏ phong bì thứ hai niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

01 lọ thuỷ tinh màu trắng, chiều cao 7cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp của lọ bằng kim loại màu vàng được đục hai lỗ, đã qua sử dụng.

01 ống hút bằng cao su màu trắng đục, dài 2cm, đã qua sử dụng.

01 ống hút nhựa màu tím dài 4cm, đã qua sử dụng.

01 ống hút nhựa màu tím dài 33,5cm, đã qua sử dụng.

01 bật lửa ga màu đỏ, không nhãn mác, không có bảo vệ phần phun ga, đã qua sử dụng.

Tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động kiểu máy Iphone Xs Max, màu vàng, số IMEI 1: 357266090646965, số IMEI 2: 357266090474665, bên trong gắn 01 sim viettel có số seri 8984048000058697755, màn hình có vết rạn, máy đã qua sử dụng.

01 điện thoại di động kiều máy Galaxy A04, màu đen, số IMEI 1: 353503966049922, số IMEI 2354811676049929, bên trong gắn 01 sim viettel có số seri 8984048000934713664 và 01 sim Mobie có số seri 8401230224197445, màn hình bị rạn vỡ, máy đã qua sử dụng.

Truy thu tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 800.000đồng sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho hai bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh Hải Dương; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội và điều luật áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như: Lời khai nhận tội của các bị cáo, biên bản vụ việc, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 08/6/2024 tại nhà trọ của Bùi Bá B ở khu dân cư K, phường T, thành phố C, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Văn H có hành vi bán trái phép 800.000 đồng ma túy loại Methamphetamine cho Bùi Bá B. Sau đó B có hành vi dùng phòng trọ của mình và chuẩn bị công cụ sử dụng ma tuý để: ngày 13/6/2024, B tổ chức sử dụng ma tuý cho H và Bùi Thị B1; ngày 15/6/2024 tổ chức cho B1 sử dụng ma túy cùng với mình. Đến 15 giờ ngày 18/6/2024 bị Lực lượng Công an thành phố C kiểm tra phát hiện và thu giữ vật chứng. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn H thu giữ 0,994g ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo Bùi Bá B đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Hành vi của Nguyễn Văn H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật theo cáo trạng là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần áp dụng một hình phạt nghiêm cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[4] Khi áp dụng hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử xem xét tới vai trò, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như sau:

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Bùi Bá B đã bị kết án chưa được xóa án tích lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi của mình nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, vị trí vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù giam cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian có như vậy mới giúp các bị cáo tâm đắc sửa đổi bản thân, biết sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Mức án mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, được chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, tài sản, không có khả năng thi hành án nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với công vụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và số ma túy hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với số tiền bị cáo Nguyễn Văn H do phạm tội mà có cần truy thu tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với sim điện thoại có số thuê bao 0862884987; 0936801148 do các bị cáo dùng vào việc vi phạm pháp luật, cần tịch thu tiêu hủy sim điện thoại và kiến nghị tổng công ty V1 và tổng công ty V2 thu hồi số thuê bao di động này là phù hợp với điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông. Đối với thuê bao 0862884987 còn 37.243đ, tiền di động 2000đ cần sung quỹ nhà nước. Đối với thuê bao 0936801148 còn 69đ nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn H không xác định được nhân thân, lý lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có căn cứ xử lý.

Đối với ông Nguyễn Văn H2, chị Vũ Thị Y không biết việc Bùi Bá B, Nguyễn Văn H thuê trọ để tổ chức sử dụng và bán trái phép chất ma túy nên không đặt ra việc xử lý.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Bá B, Nguyễn Văn H và Bùi Thị B1, Công an Thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Bá B.

- Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 2 Điều 53 Luật Viễn thông; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Bá B phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
  2. Về hình phạt chính:
    • - Xử phạt bị cáo Bùi Bá B 08 (tám) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (bảy) năm 01 (một) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 19/6/2024.
  3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
  4. Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 316KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 616 ngày 19/6/2024, góc phải ký hiệu T1, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa: 01 cóong thuỷ tinh, 01 túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 01 vỏ phong bì thứ nhất niêm phong mẫu vật gửi đến giám định; 01 phong bì dán kín, mặt trước ghi: Công an tỉnh H số 316KL-KTHS, cơ quan C, tang vật vụ án gửi giám định QĐTC số 616 ngày 19/6/2024, góc phải ký hiệu T2, mặt sau phong bì có 03 dấu đỏ giáp lai của phòng K Công an tỉnh H và 03 chữ ký niêm phong mẫu, bên trong chứa: 0,886 gam ma tuý loại Methamphetamine, 03 vỏ túi nilon màu trắng viền khoá màu đỏ, 01 vỏ phong bì thứ hai niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

    01 lọ thuỷ tinh màu trắng, chiều cao 7cm, đường kính mặt đáy 5cm, phần nắp của lọ bằng kim loại màu vàng được đục hai lỗ, đã qua sử dụng.

    01 ống hút bằng cao su màu trắng đục, dài 2cm, đã qua sử dụng.

    01 ống hút nhựa màu tím dài 4cm, đã qua sử dụng.

    01 ống hút nhựa màu tím dài 33,5cm, đã qua sử dụng.

    01 bật lửa ga màu đỏ, không nhãn mác, không có bảo vệ phần phun ga, đã qua sử dụng.

    Tịch thu cho phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động kiểu máy Iphone Xs Max, màu vàng, số IMEI 1: 357266090646965, số IMEI 2: 357266090474665, bên trong gắn 01 sim viettel có số seri 8984048000058697755, màn hình có vết rạn, máy đã qua sử dụng.

    01 điện thoại di động kiều máy Galaxy A04, màu đen, số IMEI 1: 353503966049922, số IMEI 2354811676049929, bên trong gắn 01 sim viettel có số seri 8984048000934713664 và 01 sim Mobie có số seri 8401230224197445, màn hình bị rạn vỡ, máy đã qua sử dụng.

    (Tình trạng, đặc điểm, chủng loại, số lượng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-10-2024 giữa cơ quan điều tra Công an thành phố C và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Chí Linh).

    Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 37.243đ, tiền di động 2000đ trong thuê bao số 0862884987.

    Truy thu tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn H số tiền 800.000đồng sung quỹ nhà nước.

    Kiến nghị tổng công ty V1 và tổng công ty V2 thu hồi số thuê bao di động 0862884987; 0936801148.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Bùi Bá B, Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ
  • tư pháp công an tỉnh Hải Dương.
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Chí Linh;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự- Công an thành phố Chí Linh;
  • - Công an TP. Chí Linh; Lưu: hồ sơ, Tòa án.
  • - Tổng công ty viễn thông Viettel và tổng công ty viễn thông Mobifone;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG về vụ án hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger