|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:101/2024/HS-ST
Ngày: 29 - 10 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Mã Siêu;
Bà Đặng Thị Hoà.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Quỳnh Huệ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST - HS, ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST - HS, ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với,
Các bị cáo:
1. Phạm Văn M - sinh ngày 17/6/1967, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; HKTT: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú tại: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/10; Con ông Phạm Văn X và bà Trần Thị H (đều đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 5; Có vợ là Vũ Thị H1, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Các bản án số: 04 ngày 10/02/1996 và số 32 ngày 08/11/2002 đều của TAND huyện Tiền Hải lần lượt xử phạt 09 tháng tù về tội “Tổ chức dùng ma tuý”, 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; Bản án số 1359/2006/HSPT ngày 27/12/2006 của Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Bản án số 34/2014/HSST ngày 31/7/2014 của TAND huyện Tiền Hải xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; từ năm 1986 đến năm 1989 tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt tại phiên tòa)
2. Vũ Văn T – sinh ngày 20/10/1974, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú tại: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Vũ Văn T1 và bà Bùi Thị T2 (đều đã chết); Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2; có vợ là Nguyễn Thị X1 và 03 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 02 ngày 07/6/2016 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp xử lý hành chính “đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc” có thời hạn 12 tháng. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/6/2024 đến ngày 05/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.(Có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị X1 – sinh năm 1976, địa chỉ: thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Có mặt)
Người chứng kiến:
- - Ông Tạ Minh Đ - sinh năm 1958(Vắng mặt)
- - Anh Tạ Hồng K - sinh năm 1986(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do nghiện và có nhu cầu sử dụng ma tuý nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 29/6/2024 bị cáo Vũ Văn T gọi điện thoại từ số thuê bao 0344.858.590 của Thủ đến số thuê bao 0397.572.202 của M hỏi mua 200.000₫ ma tuý loại Heroine, M đồng ý. Sau đó T điều khiển xe mô tô BKS 17B8-576.35 đi theo đường ven bờ sông K thì gặp M đang đứng gần ngôi miếu V, đến nơi T đưa cho M một tờ tiền mệnh giá 200.000đ, M nhận tiền và đưa lại cho T 01 gói bên ngoài được gói bằng nilon trong suốt, bên trong được gói bằng giấy màu trắng, biết là ma tuý nên T nhận lấy và cầm ở bàn tay trái rồi đi về hướng cầu C, xã T, huyện T. Khi đi đến chân cầu C, thuộc thôn C, xã T, huyện T thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Công an đã mời T, người chứng kiến về UBND xã T làm việc, tại đây T đã tự nguyện giao nộp từ bàn tay trái ra 01 gói bên ngoài được gói bằng nilon trong suốt, bên trong được gói bằng giấy màu trắng, mở ra bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng và khai nhận đây là ma tuý T vừa mua của Phạm Văn M ở thôn Đ, xã T với giá 200.000đ để sử dụng cho bản thân. Cơ quan chức năng đã lập biên bản quản lý, niêm phong số ma tuý trên và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T nhưng không phát hiện thu giữ gì. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn M cơ quan chức năng đã phát hiện, thu giữ, quản lý: 01 tờ tiền Polymer có mệnh giá 200.000đ, M khai nhận đây là tiền do bán ma tuý cho T mà có; 01 túi nilon trong suốt có kẻ viền màu đỏ, bên trong có 01 lớp nilon trong suốt phía trong là 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, trong cùng chứa chất bột dạng cục màu trắng. M khai nhận số ma tuý này và ma tuý bán cho Thủ là ma tuý M mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chân cầu T, địa phận xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình với giá 200.000₫ vào sáng cùng ngày, với mục đích bán kiếm lời.
Bản kết luận giám định số 1024/KL - KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật của Vũ Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,1034 gam. Mẫu vật khi khám xét chỗ ở của Phạm Văn M gửi giám định là ma tuý, loại Heroine, khối lượng 0,0427 gam.
Bản cáo trạng số 107/CT - VKSTH ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo: Phạm Văn M về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Vũ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Vũ Văn Thủ phạm T3 “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng:
- - Khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Phạm Văn M, xử phạt bị cáo Phạm Văn M từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/6/2024. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo M từ 5.000.000đ đến 7.000.000₫ sung Ngân sách nhà nước.
- - Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T, xử phạt bị cáo Vũ Văn Thủ T4 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/6/2024. Không phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Văn T.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội tại phiên toà, không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để các bị cáo yên tâm cải tạo sớm về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của các bị cáo như cáo trạng. Các bị cáo khai: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 29/6/2024, tại khu vực chân cầu C thuộc địa phận thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang Vũ Văn T đang tàng trữ trái phép 01 gói ma tuý loại Heroine có khối lượng 0,1034g với mục đích để sử dụng cho bản thân. Thủ khai số ma tuý trên T vừa mua của Phạm Văn M với giá 200.000đ. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn M, Cơ quan điều tra thu giữ 200.000đ và 0,0427g ma tuý loại Heroine tại nhà M. M khai nhận số ma tuý này M mua về để bán kiếm lời và đã bán cho Vũ Văn T 01 gói ma tuý, loại heroine khối lượng 0,1034g với giá 200.000đ. Như vậy tổng khối lượng ma tuý Phạm Văn M mua bán kiếm lời là 0,1461g, loại Heroine.
[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố, là chứng cứ buộc tội lẫn nhau và hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 29/6/2024; Các biên bản khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Văn T, tại thôn P, xã P, huyện T và Phạm Văn M tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Các biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu và biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ của Vũ Văn T, Phạm Văn M do Công an huyện T lập; Bản kết luận giám định số: 1024/KL - KTHS ngày 03/7/2024 của phòng K1 Công an tỉnh T; Lời khai của người chứng kiến Tạ Hồng K, Tạ Minh Đ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị X1.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Văn M, Vũ Văn T là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi mua bán, tàng trữ ma tuý của các bị cáo vi phạm quy định về độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý. Việc sử dụng chất ma túy gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng, làm cho người sử dụng bị lệ thuộc vào chất ma túy, dẫn đến suy kiệt kinh tế gia đình và là nguyên nhân làm phát sinh các tai tệ nạn xã hội như trộm cắp, cướp giật, ..., đặc biệt là nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội thế kỷ như HIV/AIDS. Do đó hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi hình sự. Mặc dù nhận thức rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích cá nhân, các bị cáo đã cố ý phạm tội, bất chấp pháp luật và hậu quả gây ra cho bản thân, xã hội.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Phạm Văn M đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và hành vi của bị cáo Vũ Văn T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Có tổ chức;
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự các bị cáo được hưởng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo M có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo M có nhân thân rất xấu đã nhiều lần bị kết án về các tội liên quan đến ma tuý, gây thương tích; bị cáo T 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện.
[6] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy: Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo M đã bị kết án nhiều lần về tội ma tuý, bị cáo T đã bị đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân mà tiếp tục phạm tội liên quan đến ma tuý. Vì vậy cần phải lên mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội cũng như góp phần chung vào công tác răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy.
Bị cáo M mua bán ma tuý nhằm mục đích vụ lợi do đó cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để sung Ngân sách nhà nước. Bị cáo Thủ mua ma tuý để sử dụng, lao động tự do, thu nhập không ổn định do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Trong vụ án này còn có: 01 người nam giới đã bán ma tuý cho bị cáo M tại khu vực chân cầu T, thuộc xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Do bị cáo M không biết họ tên, địa chỉ cụ thể người này ở đâu nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ điều tra, xác minh làm rõ người bán ma túy cho bị cáo M để xử lý theo pháp luật.
[8] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, được xử lý như sau:
[8.1] Đối với 200.000đ thu giữ của bị cáo Phạm Văn M đây là số tiền giao dịch mua bán trái phép chất ma tuý cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[8.2] Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen thu giữ của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ của bị cáo M. Đây là phương tiện các bị cáo gọi cho nhau để trao đổi, mua bán ma tuý cần tịch thu, hoá giá sung Ngân sách nhà nước.
[8.3] Đối với [0,0749g Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói của Vũ Văn T + 0,0159g Heroine hoàn lại sau giám định cùng bao gói của Phạm Văn M] trong 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1024/KL-KTHS. Đây là chất gây nghiện nhà nước cấm lưu hành cùng bao gói liên quan đến tội phạm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
[9] Các bị cáo M, T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Vũ Văn Thủ phạm T3 “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Văn M, xử phạt: Phạm Văn M 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/6/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng sung Ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vũ Văn T, xử phạt: Vũ Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/6/2024.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,
- - Tịch thu sung Ngân sách nhà nước 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thu của bị cáo Phạm Văn M.
- - Tịch thu, hoá giá sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A22 màu đen thu giữ của bị cáo T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 thu giữ của bị cáo M.
- - Tịch thu tiêu hủy [0,0749g Heroine của Vũ Văn T + 0,0159g Heroine của Phạm Văn M] hoàn lại sau giám định cùng bao gói trong 02 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1024/KL-KTHS.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Phạm Văn M, Vũ Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M, T phạm tội
