TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày: 16-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và bà Phạm Thị Yến
Nhi
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thị Bích V – sinh năm 1995, tại Đồng Nai
Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Đình Q (đã chết) và bà Trần Thị Ngọc B – sinh năm 1953; Chưa có chồng, có 04 con, lớn nhất sinh năm 2013 và nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2024 đến nay (có mặt)
- Người làm chứng: Nguyễn Thanh Tuấn A, Hoàng Phú T, Phạm Thị Bích P, Diệp Xuân V1. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Thị Bích V là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng tháng 10/2018, V quen biết với Hoàng Phú T, Nguyễn Thanh Tuấn A do K, Tuấn A đến nhà V chơi và giữa Tuấn A với Phạm Thị Bích P (em ruột V) có quan hệ tình cảm yêu đương. Trong khoảng thời gian này, V biết K, Tuấn A là đối tượng nghiện ma túy và Tuấn A là đầu mối bán ma túy tại địa phương. Khoảng tháng 11/2018, do cần tiền tiêu xài cá nhân và để có tiền mua ma túy sử dụng, V bắt đầu thỏa thuận giao bán ma túy giúp K và Tuấn A; cách thức giao dịch, khi người nghiện muốn mua ma túy sẽ gọi điện thoại cho V qua số điện thoại 0379.244.xxx hoặc trực tiếp đến nhà V để thỏa thuận số lượng ma túy, giá cả. Sau đó, V sẽ gọi điện thoại cho K thông qua số 0989.860.951 để hỏi K còn ma túy không, nếu còn thì V sẽ báo lại cho người mua, còn K sẽ báo với Tuấn A để phân ma túy, nếu người mua với số lượng ma túy lớn thì Tuấn A sẽ mang ma túy đến cho K đi giao hoặc nếu người mua quen biết thì Tuấn A trực tiếp giao bán. Nếu ma túy số lượng ít, có giá từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng thì K sẽ điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn ở quán cà phê hoặc ném bịch ma túy có quấn băng keo đen ở khu vực bồn hoa thuộc dải phân cách đường vào công viên S cách đường T khoảng 100m, sau đó V đến lấy về giao bán cho những người nghiện muốn mua, số tiền có được từ việc bán ma túy V đưa lại hết cho K, K đưa lại cho Tuấn A, sau đó Tuấn A sử dụng số điện thoại 0356.138.xxx gọi cho V để thông báo số tiền công và đưa tiền cho K để K đưa tiền công cho V từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Trong khoảng thời gian từ tháng 10/2018 đến tháng 01/2019, Phạm Thị Bích V đã giúp Hoàng Phú T, Nguyễn Thanh Tuấn A bán ma túy cho nhiều con nghiện trên địa bàn huyện T, cụ thể Phạm Thị Bích V đã bán ma túy cho Diệp Xuân V1, sinh năm 1989, ngụ khu E, thị trấn T, huyện T, 02 lần mỗi lần một gói ma túy trị giá 200.000 đồng.
Ngày 19/6/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiến hành khám xét tại nhà Phạm Thị Bích V thuộc ấp B, xã P, huyện T phát hiện và thu giữ tại phòng ngủ số 1 của V gồm 02 bình nhựa có gắn ống hút được làm từ chai nhựa, 01 bình thủy tinh dùng để sử dụng ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thị Bích V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã xét xử theo Bản án số 127/2021/HS-ST ngày 16/11/2021 nhưng sau đó bị hủy án theo Bản án số 268/2022/HS-PT ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Đối với nội dung yêu cầu điều tra bổ sung, làm rõ một số tình tiết liên quan đến vụ án được nêu trong Bản án phúc thẩm số 268/2022/HS-PT ngày 13/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 18/2023/HSST-QĐ ngày 25/7/2023 để điều tra bổ sung với nội dung thu thập tài liệu, chứng cứ; đối chất một số nội dung và khắc phục các vi phạm thủ tục tố tụng; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã có Văn bản số 267/CV-VKSTP-ĐN ngày 17/8/2023 giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng số 60/CT-VKSTP-ĐN ngày 11/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú. Tòa án đã tiếp tục có Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 28/2023/HSST-QĐ ngày 27/10/2023 để điều tra bổ sung với nội dung thu thập tài liệu, chứng cứ; đối chất một số nội dung và khắc phục các vi phạm thủ tục tố tụng.
Quá trình truy tố, Phạm Thị Bích V đã bỏ đi khỏi địa phương, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nơi cư trú của V. Ngày 09/01/2024, Viện kiểm sát đã ra Yêu cầu truy nã đối với Phạm Thị Bích V và ngày 31/01/2024, do hết thời hạn truy tố nên Viện kiểm sát đã ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án. Ngày 28/6/2024, Phạm Thị Bích V bị bắt theo Quyết định truy nã số 588/QĐTN-CQĐT ngày 26/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.
Theo Cáo trạng số 100/CT-VKSTP-ĐN ngày 16/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Phạm Thị Bích V về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại các điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt mức án 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B1) năm tù. Đối với vật chứng đã giải quyết xong nên không đề nghị xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị Bích V thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:
Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình thụ lý vụ án, xét thấy cần thiết làm rõ chứng cứ để kết tội bị cáo và Nguyễn Thanh Tuấn A, Sú A, Hoàng Phú T, Huỳnh Tấn T, Hồ Thanh Thảo V2; khắc phục những vi phạm thủ tục tố tụng nên Tòa án đã nhiều lần yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đối với những sai sót về tố tụng không thể khắc phục được nhưng không làm thay đổi bản chất, nội dung vụ án; Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu, chứng cứ để xét xử theo quy định của pháp luật.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác. Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản nhận dạng, biên bản đối chất; biên bản ghi lời khai, nhận dạng của các người làm chứng; Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại; các bản Kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác và diễn biến vụ việc... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:
Từ tháng 11/2018 đến ngày 01/2019 tại các xã P, T, P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Thị Bích V đã nhiều lần nhận ma túy từ H T, Nguyễn Thanh Tuấn A bán lại cho các con nghiện để được trả tiền công. Cụ thể đã chứng minh được Phạm Thị Bích V đã 02 lần bán ma túy cho Diệp Xuân V1, mỗi lần một gói ma túy trị giá 200.000 đồng.
Hành vi của Phạm Thị Bích V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tuy nhiên cần xem xét áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết định khung phạm tội có tổ chức đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự mới đúng tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; người phạm tội là phụ nữ có thai; có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Căn cứ quyết định hình phạt:
Bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, do nghiện ma túy, vì muốn có ma túy để sử dụng thỏa mãn cho nhu cầu bản thân và bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên đã thực hiện hành vi mua bán phép chất ma túy, với lỗi cố ý.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đã và đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn nói riêng. Việc mua bán trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.
Hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án thuộc trường hợp mang tính chất đồng phạm có tổ chức, Nguyễn Thanh Tuấn A tham gia với vai trò là người tổ chức, người thực hành; Hoàng Phú T, Phạm Thị Bích V tham gia với vai trò là người thực hành.
Ngoài ra còn xem xét bị cáo bỏ trốn trong quá trình điều tra, truy tố thể hiện ý thức chấp hành pháp luật kém.
Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng đồng phạm nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình; áp dụng Điều 17 và Điều 58 Bộ luật hình sự như sau:
Nguyễn Thanh Tuấn A là người chủ mưu, khởi xướng và thực hành trực tiếp bán ma túy, giao cho Hoàng Phú Trường K, bị cáo Phạm Thị Bích V đi bán và trả tiền công. Kỳ, V, đều muốn có ma túy sử dụng và có tiền tiêu xài nên đã lấy ma túy từ bị cáo Tuấn A phân nhỏ bán kiếm lời và sử dụng.
Đối với Nguyễn Thanh Tuấn A, Hoàng Phú T đã được Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử tại Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết (Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tuấn A 10 (Mười) năm tù. Xử phạt bị cáo Sú A S 07 (Bảy) năm 06 (S1) tháng tù. Xử phạt bị cáo Hoàng Phú Trường K 07 (B2) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (H) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; buộc bị cáo phải chấp hành tổng hợp hình phạt chung là 09 (C) năm tù.
Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tham gia với vai trò thực hành giúp sức, hiện đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.
Về áp dụng hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo, thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Đối với đồ vật, tài sản đã được trao trả và giải quyết tại Bản án số 67/2024/HS-ST ngày 29/5/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề khác:
Đối với việc bị cáo khai nhận bán ma túy cho nhiều đối tượng khác như C1 Già nhà ở xã P, huyện Đ, Bờm X ở thị trấn T, huyện T và T ở thị trấn T, huyện T, tuy nhiên chỉ nhớ tên, biệt danh, không xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa lấy được lời khai, kiến nghị cơ quan cấp có thẩm quyền tiếp tục điều tra làm rõ khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử, đối với hình phạt có phần nhẹ nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 251; điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 54 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
- Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, điểm c khoản 2 Điều 290, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Bích V phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích V 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phạm Thị Bích Vân 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/6/2024.
