|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày: 20/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Thẩm phán: Ông Bùi Thái Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài
Ông Trần Văn Việt
Ông Nguyễn Ngọc Cang
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Khuất Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024, đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn P, sinh năm 1981 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: tổ F, ấp N, xã L, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Con ông Nguyễn Sơn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1954); có vợ là Mã Thị Phương T (sinh năm 1986) và 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 22/4/2024, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
* Người bào chữa: Luật sư Phạm H1, Đoàn Luật sư tỉnh B. (có mặt)
* Bị hại: Bà Đỗ Thị Xuân H2, sinh năm 1978 và ông Võ Văn L, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp C, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. (vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Viết T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: ấp E, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
- Bà Tiêu Thị H3, sinh năm 1953. Địa chỉ: ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1.1. Diễn biến sự việc và kết quả điều tra:
Ngày 16/11/2023, Nguyễn Văn P đã môi giới cho ông Nguyễn Viết T1 mua cây gồm: Xà cừ, T2, Bạch đàn, Sầu đâu, Nhãn trồng trên phần đất khoảng 09 hecta tại xã N, huyện C của bà Tiêu Thị H3 giá 830 triệu đồng. Sau khi giao dịch mua bán cây thành công, ông T1 chuyển cho P 23 triệu đồng môi giới.
Khoảng tháng 12/2023, P nhận điện thoại từ ông Võ Văn L và bà Đỗ Thị Xuân H2 hỏi mua số cây Tràm và Xà cừ của ông T1 trên phần đất trên. P báo giá bán 900 triệu đồng. Ông L và bà H2 không mua vì cho rằng giá quá cao.
Khoảng tháng 01/2024, do làm ăn thua lỗ nên P nảy sinh ý định lừa dối bán số cây Xà cừ của ông T1 đã mua trên đất của bà H2 cho ông L và bà H2 để chiếm đoạt tiền tiêu xài cá nhân. P đã chủ động liên lạc với ông L và bà H2 cung cấp thông tin gian dối toàn bộ khoảng 400 cây Xà cừ của ông T1 là của mình và chào bán giá 510 triệu đồng. Tin tưởng là thật nên ông L và bà H2 đồng ý mua, chuyển cho P 510 triệu đồng (gồm: đưa trực tiếp 50 triệu đồng và chuyển vào tài khoản A số 6000205722191 của Nguyễn Văn P 460 triệu đồng), và hai bên viết giấy mua bán cây mà không biết thực chất đã bị P lừa dối chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết. Ngày 06/3/2024, khi ông L và bà H2 đưa người đến cưa số cây Xà cừ đã mua mới biết sự việc; còn L cũng nhắn tin cho ông L và bà H2 thú nhận sự việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Thanh P1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, P1 đã khai nhận hành vi của bản thân, công nhận kết quả điều tra. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại về nội dung, diễn biến sự việc và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
1.2. Phần dân sự:
Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường 510 triệu đồng cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu và làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
2. Tại Cáo trạng số 96/CT-VKS-P2 ngày 25 tháng 6 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 07 (Bảy) - 08 (T3) năm tù; về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: không.
4. Đối đáp và tranh luận tại phiên toà:
4.1. Luật sư Phạm H1 bào chữa cho bị cáo như sau:
Nhất trí với tội danh, Điều khoản Viện Kiểm sát truy tố đúng người, đúng tội; những tình tiết giảm nhẹ đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng bổ sung các tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt: Bị cáo là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh hết sức khó khăn: vợ ốm yếu bị nối gân chân, làm thuê, nông dân nhận thức hạn chế, làm ăn thua lỗ, cần tiền nuôi con, cho vợ chữa bệnh, làm liều mượn đỡ tiền bị hại, sau đó thú nhận và xin trả dần. Sau khi nhận tiền của bị hại, và trước 01 ngày theo thoả thuận giao cây cho bị hại, bị cáo đã chủ động điện thoại thú nhận sự việc với bị hại để bị hại không phải thuê nhân công, máy móc khai thác cây; chuyển trả khắc phục cho bị hại 200 triệu đồng trước khi Cơ quan điều tra có Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; và gia đình bị cáo đã chủ động bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại trước khi vụ án được chuyển cho cơ quan điều tra Công an tỉnh điều tra theo thẩm quyền.
Vì vậy, ngoài những tình tiết giảm nhẹ như Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm”, “Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra”, có cha ruột là cựu chiến binh, cựu tù chính trị đã chết năm 2012, theo quy định tại các điểm a, g khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, áp dụng xử lý tương tự như đối với pháp nhân thương mại phạm tội, xử phạt bị cáo mức án 03 (Ba) - 04 (Bốn) năm tù cũng đủ tác dụng đấu tranh giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
4.2. Bị cáo Nguyễn Văn P thống nhất theo quan điểm bào chữa của Luật sư và không tranh luận, bào chữa bổ sung.
4.3. Bị hại vắng mặt không có ý kiến tranh luận và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4.4. Đại diện Viện Kiểm sát đối đáp:
Hành vi phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã hoàn thành. Bị cáo và gia đình tự nguyện khắc phục thiệt hại trước khi khởi tố cũng được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên không thống nhất áp dụng điểm a khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm” như Luật sư bào chữa đề nghị.
Bị cáo và gia đình cũng chỉ gặp khó khăn tạm thời chứ không đến mức được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm g khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự “Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra” như quan điểm của Luật sư bào chữa.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và các đề nghị; đề nghị bổ sung áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
4.5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo chân thành xin lỗi bị hại, thể hiện thái độ ăn năn hối lỗi về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về chăm sóc vợ con, làm công dân tốt có ích cho xã hội.
5. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và người tham gia tố tụng khác, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Ngày 16/11/2023, Nguyễn Văn P đã môi giới cho ông Nguyễn Viết T1 mua vườn cây (X, T2, B, S, N) trồng trên phần đất khoảng 09 hecta tại xã N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu của bà Tiêu Thị H3 với giá 830 triệu đồng. Đến tháng 01/2024, P cung cấp thông tin gian dối 400 cây xà cừ của ông T1 là của mình để chào bán cho ông/bà Võ Văn L, Đỗ Thị Xuân H2 giá 510 triệu đồng. Tin tưởng là thật nên ông/bà L, H2 đồng ý mua và chuyển đủ 510 triệu đồng theo yêu cầu và bị bị cáo P chiếm đoạt tiêu xài cá nhân hết.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, bị cáo nhận thức rõ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, phải tôn trọng, mọi hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Nhưng để có tiền tiêu xài cá nhân, trả nợ, mặc dù tài sản không phải là của mình nhưng trong lúc điều kiện kinh tế khó khăn, bị cáo đã đưa ra thông tin không chính xác là tài sản của mình để bán cho bị hại, chiếm đoạt tiền của bị hại. Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo là con gia đình có công Cách mạng, theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Văn P đã bồi thường toàn bộ 510.000.000 đồng cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên không xem xét giải quyết phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.
[6] Về xử lý vật chứng: không.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 08 (T3) năm tù, tính từ ngày 22/4/2024.
2. Về trách nhiệm dân sự: Đã xong, không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Không.
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn P nộp 200.000 đồng.
5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (20/8/2024), bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày áp dụng đối với bị hại vắng mặt tại phiên toà được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
