trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 101/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia

đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con

chung”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ - TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý Ngoan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Anh.
  2. Bà Trần Thị Út.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phụng, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 128/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Võ Thị Liên, sinh năm: 1990 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: Ấp 6, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

    Chỗ ở hiện nay: Khóm 12, thị trấn Sông Đốc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Hùng Vũ, sinh năm: 1980 (vắng mặt)
  4. Địa chỉ: Ấp 6, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Võ Thị Liên (gọi tắt là chị Liên) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Liên và anh Nguyễn Hùng Vũ tự nguyện kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng trong quan điểm sống nhưng không hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay chị Liên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Hùng Vũ.

Về con chung: Chị Liên khai trong thời gian sống chung với anh Vũ vợ chồng có 01 con chung, tên Nguyên Thị Thảo Nguyên (giới tính: nữ) sinh ngày 08/10/2011, hiện cháu Nguyên đang sống chung với anh Vũ, khi ly hôn chị Liên đồng ý giao cháu Thảo Nguyên cho anh Vũ tiếp tục nuôi dưỡng, chị Liên không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Liên khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Hùng Vũ đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của chị Liên và Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh Vũ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với bị đơn anh Nguyễn Hùng Vũ.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Hội thẩm nhân dân và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

  • Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Liên. Cho chị Võ Thị Liên ly hôn đối với anh Nguyễn Hùng Vũ.
  • Về con chung: Giao cháu Thảo Nguyên cho anh Vũ được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Chị Liên chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Liên theo quy định pháp luật.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Chị Liên khai không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  • Về án phí: Buộc nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Võ Thị Liên khởi kiện yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung đối với bị đơn anh Nguyễn Hùng Vũ. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình - Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn anh Nguyễn Hùng Vũ có địa chỉ cư trú tại ấp 6, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Hùng Vũ được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không lý do, nguyên đơn chị Võ Thị Liên có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với tất cả các đương sự trong vụ án nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo quy định.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Liên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Vào 2011 chị Liên và anh Vũ tự nguyện kết hôn và có đăng kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Sau thời gian chung sống hạnh phúc anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm nhưng không hàn gắn được, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc nay anh chị đã không còn sống chung với nhau nữa.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Liên cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Vũ và cho rằng không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng với anh Vũ được nữa. Anh Vũ cũng đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh Vũ đều vắng mặt nên Toà án không thể ghi nhận được ý kiến của anh Vũ đối với yêu cầu ly hôn của chị Liên. Điều đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Liên và anh Vũ thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh chị không thể tiếp tục duy trì quan hệ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Liên, cho chị Liên được ly hôn với anh Vũ.

[2.2]. Về con chung: Tại đơn khởi kiện chị Liên yêu cầu được nuôi con chung. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ của Toà án, chị Liên đồng ý giao con chung là cháu Thảo Nguyên cho anh Vũ được tiếp tục nuôi dưỡng. Xét yêu cầu giao con chung là cháu Nguyễn Thị Thảo Nguyên cho anh Vũ được tiếp tục nuôi dưỡng của chị Liên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Từ khi chị Liên và anh Vũ ly thân đến nay thì cháu Nguyên sống chung với cha là anh Vũ và được được anh Vũ nuôi dưỡng. Tại bản tự khai cháu Nguyên cũng có nguyện vọng được sống chung với cha là anh Nguyễn Hùng Vũ. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về tâm sinh lý và ổn định cuộc sống cho cháu Nguyên cũng như theo nguyện vọng của cháu Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu Nguyên cho anh Vũ được tiếp tục nuôi dưỡng, là hoàn toàn phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.

Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Liên không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Do anh Vũ chưa trình bày ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nuôn con nên Hội đồng xét xử chưa xem xét, trường hợp anh Vũ có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung sẽ khởi kiện chị Liên bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Liên khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Anh Vũ vắng mặt nên chưa thể hiện ý kiến về tài sản và nợ chung, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét về tài sản và nợ chung của chị Liên và anh Vũ, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết thành vụ án khác theo quy định.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Võ Thị Liên phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 233; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn chị Võ Thị Liên đối với bị đơn anh Nguyễn Hùng Vũ. Cho chị Võ Thị Liên được ly hôn với anh Nguyễn Hùng Vũ.
  2. Về con chung:

    Giao cháu Nguyễn Thị Thảo Nguyên (giới tính: nữ) sinh ngày 08/10/2011, cho anh Nguyễn Hùng Vũ được tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Anh Vũ chưa yêu cầu chị Liên cấp dưỡng nuôi con nên chưa xem xét.

    Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung cho chị Võ Thị Liên không ai được quyền cản trở.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Liên khai không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét. Anh Vũ chưa thể hiện ý kiến về tài sản và nợ chung, nên chưa xem xét.
  4. Về án phí: Nguyên đơn Võ Thị Liên phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo lai thu số 0010109 phiếu lập ngày 18/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/9/2024). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bán án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND H. Long Mỹ;
  • - THADS H. Long Mỹ;
  • - UBND xã Vĩnh Viễn A;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thúy Ngoan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, yêu cầu nuôi con chung

  • Số bản án: 101/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, yêu cầu nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị L yêu cầu ly hôn với anh V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger