Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/DS-ST

Ngày 19-8-2024

V/v: Tranh chấp về chia tài sản chung

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Ái Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Kiều Thu.
  2. Ông Đặng Thanh Tấn.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Nhàn – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết – tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hường – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 81/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Chia tài sản thuộc sở hữu chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 560/2024/QĐXX-ST ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

Bà Đặng Thị Lynh T, sinh năm 1969

Địa chỉ: khu phố A, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đặng Trường T1, sinh năm 1969 (Theo Hợp đồng ủy quyền số 000572, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/3/2024 công chứng, chứng thực tại Văn phòng C). Địa chỉ: số A N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn:

Ông Đặng Lê S, sinh năm 1967. Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Đặng Ngô Đình K, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 19/8/2024 được Văn phòng C1 công chứng, chứng thực số 000235, quyển số 01/2024TP/CC-SCC/HĐGD)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Ngô Đình Thu T2, sinh năm: 1964. Địa chỉ: khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đặng Ngô Đình K, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 09/7/2024 được Văn phòng C công chứng, chứng thực số 001840, quyển số 03/2024TP/CC-SCC/HĐGD).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị Lynh T là nguyên đơn trình bày:

Vào năm 2018, bà Đặng Thị Lynh T có đặt cọc để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Văn Tấn S1, do bà T có khó khăn về tài chính nên có yêu cầu ông Đặng Lê S là anh trai ruột của bà T, cùng góp tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Văn Tấn S1 với diện tích 3000m² (đất trồng cây lâu năm) tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AP 933401 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 15/10/2009 với số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng), tỷ lệ góp tiền bà T góp 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng), ông S góp 100.000.000 (Một trăm triệu đồng). Sau đó hai bên thoả thuận, ông S là người đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông Văn Tấn S1, bà Trần Thị M đồng thời ông S đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà T là người đi làm tất cả các thủ tục hành chính sang tên, đóng thuế và các lệ phí khác theo giấy ủy quyền của ông Đặng Lê S, số diện tích đất 3000 m² được chia theo tỷ lệ vốn góp của từng người. Cụ thể bà T được nhận 2000m² quyền sử dụng đất, ông S được nhận 1000m² quyền sử dụng đất. Ngày 02/11/2018 ông S đã được cập nhật tại trang 4, trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 933401, ngày 18/10/2023 số diện tích đất 3000m² thuộc thửa 171 tờ bản đồ số 17 được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thương mại dịch vụ và được Ủy ban nhân dân Thành phố P tách làm hai thửa, thửa số 128 có diện tích 2000m² và thửa số 129, tờ bản đồ số 10, có diện tích 1000m² vẫn giữ nguyên mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm. Hiện trên diện tích đất trên, bà T có xây dựng 01 căn nhà cấp 4, với mục đích là kinh doanh vật liệu xây dựng.

Sau khi đã hoàn tất các thủ tục chuyển mục đích xong thì giữa bà T và ông S có nhiều mâu thuẫn nhau và không thể giải quyết được. Cụ thể là không triển khai thi công xây dựng, khai thác kinh tế tạo nguồn lợi, mâu thuẫn quan điểm trái ngược về phương án kinh doanh nên không thể nào hợp tác với nhau được nữa. Vụ việc kéo dài đến nay đã lâu không giải quyết được.

Nay bà T yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông Đặng Lê S chia cho bà T 2000m² trong số diện tích đất 3000m² mà ông S đang đứng tên. Cụ thể là chia cho bà T 1000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 và 1000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S. Phần diện tích đất 1000m² còn lại của thửa đất số 128, đất thương mại dịch vụ nói trên chia cho ông S.

Phía trước phần đất trên, có 1 phần tiếp giáp với thửa đất số 232 do bà T đứng tên sử dụng đất và giáp với thửa số 231 do ông S đứng tên sử dụng đất.

Về căn nhà trên đất, do bà T bỏ tiền ra xây dựng với mục đích làm kinh doanh, nếu Toà án buộc bà T tháo dỡ thì bà T tự nguyện tháo dỡ hoặc nếu giao cho ông S sở hữu thì bà T cũng tự nguyện giao căn nhà cho ông S, bà T không yêu cầu ông S phải thanh toán lại tiền nhà cho bà T.

Về chi phí tố tụng khác: Gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí đo đạc và vẽ bản đồ vị trí khu đất tranh chấp; Chi phí thẩm định giá thị trường do bà T đã tạm ứng, nay bà T tự nguyện chịu, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đặng Lê S là bị đơn trình bày:

Vào khoảng cuối năm 2018, ông Đặng Lê S và bà Đặng Thị Lynh T, có cùng hợp tác hùm vốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông Văn Tấn S1, sinh năm 1971 CMND số: [...] do Công an tỉnh B cấp, trú tại: khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, diện tích đất 3000m² (đất trồng cây lâu năm), toạ lạc tại khu phố E, phường P, Thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AP 933401 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 15/10/2009 với số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Ông Văn Tấn S1 và bà Trần Thị M đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng đất. Số tiền hai bên phải góp là: Ông S góp 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng), bà T góp 200.000.000 (Hai trăm triệu đồng). Hai bên có làm văn bản thoả thuận vào ngày 05/10/2018. Sau đó hai bên thống nhất ông S là người đứng tên và ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với vợ chồng ông Văn Tấn S1, bà Trần Thị M. Sau khi hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, ông S xin chuyển mục đích sử dụng đất sang đất thương mại dịch vụ và được Ủy ban nhân dân thành phố P chia làm hai thửa, thửa 128 có diện tích 2000m² được chuyển sang đất thương mại dịch vụ và thửa số 129 có diện tích 1000m² vẫn giữ nguyên mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm. Giữa hai bên có thống nhất chia theo tỷ lệ vốn góp của từng người. Sau đó, giữa hai bên có nhiều mâu thuẫn với nhau, không thống nhất giao cho một mình ông S giải quyết mọi vấn đề.

Nay bà T kiện yêu cầu chia tài sản chung, ông S chỉ chấp nhận chia đôi số diện tích đất trên, không đồng ý chia theo tỷ lệ như bà T yêu cầu. Cụ thể, thửa 128 nói trên có diện tích 2000 m² thì chia mỗi người ½; thửa số 129 có diện tích 1000m² chia mỗi người ½.

Căn nhà trên đất, vào năm 2020 do bà T là người trực tiếp đứng ra xây dựng, tiền xây nhà là của bà T, vào năm 2020, bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt do xây dựng nhà chưa có giấy phép xây dựng, do ông S là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên ông S bị xử phạt. Nay ông S yêu cầu bà T phải tự tháo dở phần nhà trên.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Đình Thu T2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

Số tiền mua đất chung với bà T là tiền chung của ông S và bà T2 trong thời kỳ hôn nhân. Nay bà T kiện chia đất, bà Ngô Đình Thu T2, thống nhất ý kiến với ông Đặng Lê S.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Đặng Thị Lynh T khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Lê S chia cho bà Đặng Thị L Trang 2000m ² trên số diện tích đất 3000m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo qui định tại khoản 2 Điều 26 ; điểm a khoản 01 Điều 35; điểm a khoản 01 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về xác định tài sản chung:

Qua lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy bà T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Lê S chia cho bà T 2.000 m ² trong số diện tích đất 3000m² mà ông S đang đứng tên. Cụ thể là chia cho bà T 1000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 và 1000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S. Ông Đặng Lê S thừa nhận có góp tiền với bà Đặng Thị L T nhận chuyển nhượng diện tích đất 3000m², hai bên có lập văn bản thoả thuận vào ngày 05/10/2018. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia tài sản chung tương ứng với số tiền góp chung của nguyên đơn và bị đơn.

Bà Ngô Đình Thu T2 là vợ ông Đặng Lê S, số tiền mua đất chung với bà T là tiền chung của ông S và bà T2 trong thời kỳ hôn nhân. Do đó bà T2 phải có nghĩa vụ cùng với ông S chia đất cho bà T.

Ông Đặng Lê S thừa nhận, vào ngày 05/10/2018 ông và bà Đặng Thị Lynh T có góp tiền mua chung diện tích đất 3.000m², toạ lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc thửa đất số 171, tờ bản đồ số 17, đất trồng cây lâu năm, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AP 933401 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 15/10/2009 đứng tên ông Văn Tấn S1 với số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Hai bên có lập văn bản thoả thuận, phần bà T góp 200.000.000 đồng được quy ra tương đương với 2000m², ông S góp 100.000.000 đồng quy ra tương đương với 1000m². Ông S và bà T thống nhất ông S là người trực tiếp ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông S1. Đến ngày 02/11/2018, Chi nhánh Văn phòng Đ cập nhật biến động sang tên cho ông Đặng Lê S diện tích đất nói trên. Vào ngày 18/10/2023, một phần thửa đất trên đã được chuyển mục đích sử dụng, trong đó 2000m², chuyển mục đích sang đất thương mại dịch vụ, tách thành thửa đất số 128 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 và 1000m² thuộc thửa đất số 129 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S. Căn cứ vào Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Từ những căn cứ trên đủ cơ sở xác định, diện tích đất nói trên là tài sản chung của ông S và bà T.

[3] Về giá trị quyền sử dụng đất:

Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số: Vc 150/2024/061/BĐS-GCVC-BTh ngày 25/7/2024 của Công ty cổ phần T3 và thẩm định giá Toàn Cầu, xác định thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, có diện tích 2000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S có giá trị là: 6.936.000.000 đồng (Sáu tỷ Chín trăm ba mươi sáu triệu đồng) và thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, có diện tích 1000m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S có giá trị là 3.255.000.000 đồng (Ba tỷ hai trăm năm mươi lăm triệu đồng). Tổng cộng là 10.191.000.000 đồng (Mười tỷ một trăm chín mươi mốt triệu đồng).

[4] Về chia tài sản chung:

[4.1] Bà T yêu cầu ông S chia cho bà T 1000m², thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 có diện tích 2000m² và 1.000m² thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 có diện tích 1000m², toạ lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận do Văn

phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S. Như đã phân tích ở trên, diện tích đất nói trên là tài sản chung của bà T và ông S, có tổng giá trị là 10.191.000.000 đồng (Mười tỷ một trăm chín mươi mốt triệu đồng), trong đó bà T có 2000m² và ông S có 1000m², do ông S là người đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận. Do đó, căn cứ vào Điều 207, Điều 208, Điều 209, Điều 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bà T yêu cầu chia cho bà quyền sử dụng đất có diện tích 2000m² và chia cho ông S quyền sử dụng đất có diện tích 1000m² là có căn cứ chấp nhận.

[4.2] Căn cứ Quyết định số 21/2021/QĐ-UBND ngày 30/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh B quy định điều kiện tách thửa, điều kiện hợp thửa và diện tích tối thiểu được tách thửa đối với từng loại đất trên địa bàn tỉnh Bình Thuận và Bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T4 lập ngày 14/6/2024, xét thấy tại vị trí mốc từ số 1-2 tiếp giáp với thửa đất số 232, tờ bản đồ số 10, có diện tích 600m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 542897 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 05/02/2024 đứng tên bà Đặng Thị Lynh T và tại vị trí từ mốc số 2-3 tiếp giáp với thửa đất số 231, tờ bản đồ số 10, có diện tích 1410,7m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DO 542896 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 05/02/2024 đứng tên ông Đặng Lê S. Do đó, có cơ sở để chia quyền sử dụng đất như sau:

[4.3] Chia cho bà Đặng Thị Lynh T quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², đất thương mại dịch vụ, thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213, gồm các mốc “1-2-5-6-1” và 1000m², đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023, gồm các mốc “3-4-5-6-7-8-9-10-11-3”. Giá trị quyền sử dụng diện tích 2000m² đất của bà T là 6.723.000.000 đồng (6.936.000.000 đồng:2 +3.255.000.000 đồng).

[4.4] Chia cho ông Đặng Lê S quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², đất thương mại dịch vụ, tọa lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023, gồm các mốc “2-3-4-5-2”. Giá trị quyền sử dụng diện tích 1000m² đất của ông S là 3.468.000.000 đồng.

[5] Bà Ngô Đình Thu T2 là vợ ông Đặng Lê S, số tiền góp mua đất với bà T là tiền chung của ông S và bà T2 trong thời kỳ hôn nhân. Do đó buộc bà T2 phải có nghĩa vụ cùng với ông S chia cho bà T 2000m ² quyền sử dụng đất có vị trí các mốc như trên.

[6] Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết và theo Bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH T4 lập

ngày 14/6/2024, trên diện tích đất tranh chấp nói trên có căn nhà, dạng nhà kho, trệt, kết cấu: tường gạch, mái lợp tôn, nền lát gạch hoa do bà T xây dựng, trong đó có một phần diện tích nhà 85,9m² cùng nhà vệ sinh 17,9m² toạ lạc trên thửa đất số 128, tại vị trí của diện tích đất 1000m ² chia cho ông S nói trên. Bà T tự nguyện tháo dỡ phần nhà trên diện tích đất giao cho ông S nói trên. Do đó, buộc Bà T phải tháo phần căn nhà có diện tích 85,9m² cùng nhà vệ sinh 17,9m², xây dựng trên diện tích đất chia cho ông S nói trên.

[7] Về chi phí tố tụng khác: Gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí đo đạc và vẽ bản đồ vị trí khu đất tranh chấp; Chi phí thẩm định giá thị trường do bà T đã tạm ứng, nay bà T tự nguyện chịu, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Những người được chia tài sản phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều Điều 266, Điều 269, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều Điều 207, Điều 208, Điều 209, Điều 219 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị Lynh T về việc chia tài sản chung.

Buộc bà Đặng Thị Lynh T phải tháo dỡ phần căn nhà có diện tích 85,9m² cùng nhà vệ sinh 17,9m², xây dựng trên thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023.

- Chia cho bà Đặng Thị Lynh T quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023. Đất tọa lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, vị trí gồm các mốc “1-2-5-6-1” và quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc thửa đất số 129, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023. Đất tọa lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, vị trí gồm các mốc “3-

4-5-6-7-8-9-10-11-3” theo Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty trách nhiệm hữu hạn T5-DV Khảo sát và Đo đạc HTB ban hành ngày 14/6/2024.

- Chia cho ông Đặng Lê S quyền sử dụng đất có diện tích 1000m², thuộc thửa đất số 128, tờ bản đồ số 10, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023. Đất tọa lạc tại khu phố E, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, vị trí gồm các mốc “2-3-4-5-2” theo Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty trách nhiệm hữu hạn T5-DV Khảo sát và Đo đạc HTB ban hành ngày 14/6/2024.

- Ông Đặng Lê S và bà Ngô Đình Thu T2 có nghĩa vụ giao cho bà Đặng Thị Lynh T diện tích đất 1000m² có vị trí, mốc ranh “1-2-5-6-1” và diện tích đất 1000m² có vị trí, mốc ranh “3-4-5-6-7-8-9-10-11-3” theo Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty trách nhiệm hữu hạn T5-DV Khảo sát và Đo đạc HTB ban hành ngày 14/6/2024.

Buộc Ông Đặng Lê S và bà Ngô Đình Thu T2 phải giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DL837213 và số DL837214 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cấp ngày 18/10/2023 đứng tên ông Đặng Lê S cho bà Đặng Thị Lynh T để bà Đặng Thị Lynh T thực hiện thủ tục đăng ký đất đai đối với diện tích đất được chia.

Bà Đặng Thị Lynh T, ông Đặng Lê S có nghĩa vụ đăng ký đất đai theo quy định pháp luật.

Kèm theo bản án là Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty trách nhiệm hữu hạn T5-DV Khảo sát và Đo đạc HTB ban hành ngày 14/6/2024.

2. Về chi phí tố tụng khác:

Bà Đặng Thị Lynh T tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; Chi phí đo đạc và vẽ bản đồ vị trí khu đất tranh chấp; Chi phí thẩm định giá thị trường.

3. Về án phí:

- Bà Đặng Thị Lynh T phải chịu 114.723.000 đồng (Một trăm mười bốn triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bà Đặng Thị Lynh T đã nộp số tiền tạm ứng án phí 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0001374 ngày 13/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết nay chuyển sang án phí và sung vào ngân sách nhà nước, bà Đặng Thị Lynh T phải nộp thêm số tiền 102.723.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu bảy trăm hai mươi ba nghìn đồng).

- Ông Đặng Lê S phải chịu 101.360.000 đồng (Một trăm lẻ một triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19-8-2024).

Nơi nhận

  • - Các đương sự
  • - Viện kiểm sát nhân dân Phan Thiết
  • - Toà án tỉnh Bình Thuận
  • - Thi hành án dân sự Phan Thiết
  • - Lưu

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Hà Thị Ái Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp về chia tài sản chung

  • Số bản án: 101/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐẶNG THỊ LUYNH TRANG - ĐẶNG LÊ SƠN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger