Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---

Bản án số: 101/2024/DS-ST

Ngày 19 - 4 - 2024

V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Minh Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hiển

Ông Phạm Việt Hưng

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 102/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1968; địa chỉ cư trú: Ấp TL A, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

- Bị đơn:

  1. Anh Phạm Văn K, sinh năm 1976; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
  2. Chị Trần Hồng T1, sinh năm 1981; địa chỉ cư trú: Ấp TA, xã TĐ, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Nguyễn Quốc T trình bày: Trước đây, chị T1 và anh Kn làm chủ hụi, ông có tham gia chơi trong các dây hụi, cụ thể:

Dây hụi 1.000.000đ, mở ngày 25/10/2021 âl, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 39 phần, ông tham gia 01 phần. Quá trình chơi hụi, ông đóng đến kỳ thứ 17 thì chị T1, anh K đình hụi. Số tiền anh K và chị T1 nợ ông là 17 kỳ x 1.000.000₫ = 17.000.000đ.

Dây hụi 2.000.000đ, mở ngày 10/02/2022 âl, mỗi tháng khui 01 lần, dây hụi gồm 43 phần, ông tham gia 01 phần. Quá trình chơi hụi, ông đóng đến kỳ thứ 14 thì chị T1, anh K đình hụi. Số tiền anh K và chị Tlm nợ ông là 14 kỳ x 2.000.000₫ = 28.000.000₫.

Tổng số tiền hụi chị T1, anh K nợ tôi là 45.000.000đ. Chị T1 và anh K có trả cho ông nhiều lần với số tiền là 5.205.000đ, còn nợ lại 39.795.000đ.

Nay ông yêu cầu anh K và chị T1 trả tổng số tiền là 39.795.000đ.

Đối với anh Phạm Văn Kn, chị Trần Hồng Tlm đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh chị không có ý kiến về nội dung, yêu cầu khởi kiện của ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Quốc T khởi kiện yêu cầu anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T1 trả tiền nợ hụi là vụ kiện tranh chấp hụi, do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tung: Ông Th có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Kn và chị T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông T, anh K, chị T1.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử thấy rằng: Việc các đương sự có tham gia chơi hụi và anh K, chị T1 còn nợ tiền hụi ông T 45.000.000đ là thực tế có xãy ra. Sau đó, anh K và chị T1 có trả cho ông T nhiều lần được số tiền 5.205.000đ, còn nợ lại 39.795.000đ. Xét thấy: Anh K và chị T1 là chủ hụi, còn ông T là hụi viên. Trong quá trình chơi hụi, ông T đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng hụi cho anh K, chị T1. Với vai trò là chủ hụi, anh K, chị T1 là người bảo lãnh cho các hụi viên tham gia. Cho nên, trong quá trình chơi hụi nếu hụi bị bể hay bị hụi viên hốt mà không đóng hụi lại hoặc đình hụi thì anh K, chị T1 phải chịu trách nhiệm đối với các hụi viên. Như vậy, việc anh K, chị T1 tự đình hụi thì anh chị phải có trách nhiệm trả lại số tiền hụi mà các hụi viên đã đóng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Xét về nghĩa vụ trả tiền, Hội đồng xét xử nhận thấy: Anh K, chị T1 đã biết được nội dung, yêu cầu khởi kiện của ông T nhưng anh, chị không có ý kiến, không đưa ra chứng cứ chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án để xét xử là phù hợp với khoản 4 Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Mặt khác, khi chị T1 mở dây hụi này thì anh K với chị T1 đang chung sống cuộc sống vợ chồng và hiện nay anh chị vẫn còn tồn tại mối quan hệ hôn nhân. Do đó, khoản nợ hụi của ông T là khoản nợ chung của anh K với chị T1 được phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, anh K và chị T1 phải cùng có nghĩa vụ trả tiền cho ông T là phù hợp.

[5] Xét về án phí dân sự: Anh K và chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật hiện hành.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 91; Điều 5; Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc T.

  1. Buộc anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T1 phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Quốc T số tiền là 39.795.000 đồng (ba mươi chín triệu bẩy trăm chính mươi lăm ngàn đồng).
  2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng số tiền và thời gian chậm thi hành.
  3. Về án phí dân sự:
    1. Ông Nguyễn Quốc Th không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông T 9957.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0000782 ngày 27 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi.
    2. Anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 1.989.000 đồng.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trương Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 101/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Quốc T yêu cầu anh Phạm Văn K và chị Trần Hồng T1 trả số tiền nợ hụi 39.795.000đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger