TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số 101/2024/DSPT Ngày 18/7/2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế.
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Văn Giang và ông Dương Văn Bản.
Thư ký phiên toà: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 151/2023/TLPT-DS ngày 29 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 62/2023/DSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 34/QĐPT-DS ngày 29 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1966;
- Bị đơn: Ông Phạm Thành Đ, sinh năm 1956 và vợ là bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1965;
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt);
Người giám hộ của bà N: Chị Nguyễn Thị Hà M, sinh năm 1997 (con gái bà N có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà N: Ông Nguyễn Văn T, Tư vấn viên Trung tâm T2;
Địa chỉ: Số F, ngõ A, đường T, quận C, thành phố Hà Nội (có mặt).
Cùng có địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (ông Đ và bà H đều có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đ và bà H: Ông Lưu Bình D, Luật sư văn phòng L1, đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà N trình bày: Gia đình bà đang quản lý và sử dụng thửa đất số 279, tờ bản đồ số 28, phường T, thành phố T diện tích: 992m², (trong đó đất ở 300 m²; đất trồng cây lâu năm 692m²). Đất đã được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30 tháng 6 năm 2006 mang tên hộ ông Nguyễn Văn K và Ngô Thị N. Ngày 24/6/2021 được cấp đổi lại mang tên Ngô Thị N. Nguồn gốc thửa đất trên do vợ chồng bà mua của ông Phạm Gia L bố đẻ ông Đ từ năm 1995. Đến đầu năm 2006 gia đình bà mới làm thủ tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và ngày 30/6/2006 được UBND thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện sơ đồ thửa đất, các mốc giới, chỉ giới giáp ranh rất rõ ràng. Ngày 27/9/20021, ông Phạm Thành Đô h sử dụng đất liền kề với đất nhà bà có cho người đến tự tháo dỡ hàng rào, đổ vật liệu và xây dựng tường rào lên một phần diện tích đất hợp pháp của gia đình bà. Đã lấn chiếm sang thửa đất nhà bà diện tích khoảng 150m². Đề nghị Toà án giải quyết những vấn đề sau:
- Yêu cầu ông Phạm Thành Đ và vợ là Nguyễn Thị Thu H trả lại phần diện tích đất đang tranh chấp theo kết quả đo đạc là 183m²;
- Yêu cầu ông Phạm Thành Đ phải tháo dỡ tường rào đã xây lấn chiếm sang phần đất của gia đình bà.
Bị đơn vợ chồng ông Phạm Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Gia đình ông được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AÐ 602414 mang tên hộ ông Phạm Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thu H ngày 31 tháng 8 năm 2006 thửa đất số 516, tờ bản đồ số 28, diện tích 210m²; Mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại phường T, thành phố T. Nguồn gốc thửa đất này do UBND huyện Đ cấp cho bố ông là Phạm Gia L năm 1983 là đất đồi. Gia đình ông đã trồng vườn Bạch đàn đến năm 1985 phần dưới chân đồi gia đình ông hạ thấp lấy đất đóng gạch để xây nhà. Năm 1990 bố ông cho con trai út là Phạm Thái S phần đất đã hạ thấp khoảng 300m² để ông S đóng gạch xây 02 gian nhà lợp ngói xi măng. Năm 1995 ông S bán nhà và phần đất thấp khoảng 300m² cho ông Nguyễn Văn K. Còn lại trên cao khoảng 200m² bố ông giữ lại vườn cây Bạch đàn để tăng gia. Năm 2011 gia đình ông và ông Nguyễn Văn K, bà Ngô Thị N đồng ý cho người khác san lấp để lấy mặt bằng xây dựng và tăng gia. Trước khi san hai gia đình cũng đã cùng nhau đo mốc giới giáp ranh giữa hai bên. Sau khi san lấp đất xong trả lại mặt bằng, hai gia đình đã đo đạc lại đất và cắm lại mốc giáp ranh năm 2012. Nhà ông K xây nhà trước còn mượn đất của nhà ông để tập kết vật liệu. Khi xây xong nhà gia đình ông K đã dọn vật liệu thừa và gạch vỡ trả lại vườn để gia đình ông xây hàng rào bao quanh bằng cột bê tông cao 1,5m rào bằng tấm lợp, và trồng cây ăn quả lâu năm như M1, B, N1, B1 trên đó được 10 năm. Tháng 6/2021 do hoàn cảnh gia đình tôi phải chuyển đi ở trọ nơi khác, gia đình bà N đã phá dỡ hàng rào, chặt cây ăn quả của gia đình
ông nhằm chiếm đất. Đầu tháng 10/2021 gia đình ông đề nghị gia đình bà Nên rào lại hàng rào đã phá của gia đình ông nhưng bà N không rào lại mà còn chửi bới gia đình ông và bảo gia đình ông chiếm đất nên gia đình ông đã xây lại xung quanh thửa đất, phía bên trong hàng cột bê tông là hàng rào ranh giới mà hai bên đã cắm lại năm 2011 để giữ nguyên hiện trạng bằng gạch xi măng cao 60cm. Sau khi xây xong khoảng 02 tuần gia đình ông có kiểm tra lại thì gia đình bà N đã cho người giăng lưới thép xung quanh thửa đất của gia đình ông và chặt phá hết cây ăn quả trong vườn nhằm chiếm đất. Nay gia đình ông khẳng định đã xây tường rào bao quanh đúng ranh gới mà hai bên đã cắm mốc cách đây 10 năm sau khi gia đình ông K, bà N xây xong nhà nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người làm chứng ông Nguyễn Thế P trình bày: Gia đình ông có thửa đất số 280, tờ bản đồ số 28 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có giáp ranh với thửa đất số 516, tờ bản đồ số 28 của nhà ông Đ, bà H. Đất của nhà ông có vị trí ở phía trên đỉnh quả đồi, phía dưới là thửa đất của ông Đ, bà H còn đất nhà bà N ở dưới cùng. Thửa đất này gia đình ông vẫn đang sử dụng trồng cây keo, về ranh giới với thửa đất số 516 chưa được xác định cụ thể vì chưa có ai đến giao mốc giới.
Với nội dung trên, tại bản án sơ thẩm số 62/2023/DSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 146, 147, 235, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166, 175 Bộ luật dân sự 2015; Điều 166 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị N;
- Buộc ông Phạm Thành Đ, bà Nguyễn Thị Thu H tháo dỡ bức tường xây và thu hoạch những cây M1, B, N1, B1 trả lại cho bà Ngô Thị N 183 m² đất tại thửa đất số 279, tờ bản đồ 28, phường T, thành phố T tương ứng với 25.814.764 đồng được giới hạn bởi các mốc 1; 2; 9; 4; 5; 8; 1 (Có sơ đồ kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Phạm Thành Đ, bà Nguyễn Thị Thu H phải trả cho bà Ngô Thị N số tiền 5.000.000 đồng.
- Về án phí: Bà Ngô Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại bà Ngô Thị N 330.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục T1 hành án dân sự thành phố Thái Nguyên ngày 01 tháng 12 năm 2021 theo biên lai số: 000.0757. Ông Phạm Thành Đ, bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 1.290.738 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/11/2023, bà H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm các đương sự đã tự nguyện thoả thuận được với nhau về cách thức giải quyết toàn bộ vụ án như sau: Chia đôi diện tích đang tranh chấp phần giáp nhà bà N thì bà N được quản lý, sử dụng. Phần giáp thửa 516 của ông Đ, bà H thì vợ chồng ông Đ được quyền quản lý, sử dụng. Những cây cối không đáng giá bao nhiêu tiền mà thuộc phần đất bên nào thì bên đó được quyền sở hữu. Tiền chi phí thẩm định, định giá lần một thì bà N tự nguyện chịu. Chi phí thẩm định, đo đạc lần hai thì ông Đ và bà H tự nguyện chịu. Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm số 62/2023/DSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự đã tự nguyện thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của họ là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận của các đương sự theo quy định tại Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm công nhận sự thoả thuận của các đương sự là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Các Điều 300, 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Luật đất đai. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Sửa bản án sơ thẩm số 62/2023/DSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự như sau:
- Bà Ngô Thị N được quyền quản lý, sử dụng 97,5m² đất theo các cạnh E - A' - Z - Y - X - V - U - C’- E. Có quyền sở hữu những cây cối trên phần đất thoả thuận chia (có sơ đồ đo đạc kèm theo bản án).
- Vợ chồng ông Phạm Thành Đ, bà Nguyễn Thị Thu H được quyền quản lý, sử dụng 98,3m² đất theo các cạnh C - D - E - C’- R - S - T - C. Có quyền sở hữu những cây cối trên phần đất thoả thuận chia (có sơ đồ đo đạc kèm theo bản án).
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Bà Ngô Thị N tự nguyện chịu số tiền đo đạc lần một 5.000.000đ (năm triệu đồng) đã chi phí xong. Vợ chông ông Phạm Thành Đ và bà Nguyễn Thị Thu H tự nguyện chịu số tiền đo đạc lần hai 6.800.000₫ (sáu triệu, tám trăm nghìn đồng) đã chi phí xong.
- Về án phí:
- Về án phí sơ thẩm: Bà Ngô Thị N phải chịu 330.000đ (ba trăm ba mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000757 ngày 01/12/2021 tại Chi cục T1 hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Về án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm. Xác nhận bà H đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0002235 ngày 13/11/2023 tại Chi cục T1 hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quế |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Hoàng Văn G – D | Nguyễn Văn Q |
Bản án số 101/2024/DSPT ngày 18/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 101/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm số 62/2023/DSST ngày 26/10/2023 của Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự
