Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày 17 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trương Văn Bắc

Ông Quản Giang Thao

- Thư ký phiên tòa : Ông Phạm Viết Chiến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Kim Duy Chung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành H, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1993 tại phường 22, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: 15/32/22 Võ Duy N, phường, quận h, thành phố Hồ Chí Minh.

Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Th H; có vợ là Hà Kim N và 03 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án: Ngày 15/11/2021, bị TAND quận 1, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội cướp giật tài sản (Bản án số 136/2021/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/11/2022);

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 11/01/2018, bị TAND quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 06/2018/HS-ST).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 27/01/2024, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã Nghi Sơn. (Có mặt).

- Bị hại:

  1. Anh Lê Văn T, sinh năm 1988 ( Có mặt)
  2. Nơi cư trú: TDP B, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.

  3. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1986 (Có mặt).
  4. Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Tồn K, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
  2. Nơi cư trú: D2/499/2 Ấp 4, B, huyện B, TP. Hồ Chí Minh.

  3. Anh Đỗ Duy L, sinh năm 1994 (Vắng mặt).
  4. Nơi cư trú: Thôn H, xã huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

  5. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
  6. Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.

  7. Chị Dương Thị H, sinh ngày 25/10/2006 (Vắng mặt).
  8. Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.

  9. Chị Trần Thị M, sinh năm 1986 (Vắng mặt).
  10. Nơi cư trú: TDP L, phường H, thị xã N, Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 22/11/2023, Nguyễn Thành H cùng với Trần Tồn K và Đỗ Duy L, đến uống cà phê tại quán “Cây Xanh Quán” ở tổ dân phố Liên Trung, phường Hải Thượng, thị xã Nghi Sơn. Đến khoảng 19h15' cùng ngày, thì có thêm Lê Văn T, Nguyễn Văn Hà Nguyễn Hữu T1 đến uống cà phê và ngồi bàn bên cạnh. Do thấy K, L và H nói chuyện và bật âm lượng tivi của quán to tiếng nên T1 quay về phía bàn của H bảo “Nói nhỏ thôi”, thì hai bên có lời qua tiếng lại dẫn đến xô xát. H cầm 01 cốc thủy tinh, loại có quai, cao 11,5cm, đường kính miệng cốc 08cm, đường kính đáy cốc 06cm đi sang bàn của T1. Thấy vậy, T1 đứng lên thì bị H cầm cốc thủy tinh đập 01 phát trúng vào vùng thái dương và tai trái, khiến T1 bị thương và cốc thủy tinh bị vỡ. Thấy T1 bị đánh, T đứng dậy xông lại phía H thì bị H cầm phần cốc thủy tinh vỡ có quai trên tay đánh về phía T, T giơ tay phải lên đỡ thì trúng vào bàn tay phải và vùng mặt bên trái của T. Lúc này, K cũng cầm 01 cái ghế (ghế bằng khung kim loại, mặt ngồi, tựa lưng bằng mây tre đan) của quán đứng lên, thì thấy H lùa đuổi nhóm của T1 chạy ra ngoài đường nên K bỏ ghế xuống và chạy theo. L cũng chạy vào quầy lễ tân của quán lấy 01 con dao (dao bằng kim loại đã qua sử dụng, dao dài 34cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13 cm, đường kính 4,2cm, lưỡi dao dài 21cm, đầu mũi dao cắt vát) định lùa đuổi theo nhóm của T1 nhưng được mọi người can ngăn nên L cầm theo con dao cùng với H, K đi về phòng trọ. Về phần Nguyễn Hữu T1 và Lê Văn T bị thương bỏ chạy ra ngoài đường, sau đó được mọi người đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Hợp Lực thị xã Nghi Sơn (BL 231, 244, 275, 302, 317-318, 353).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2026/KLTTCT-PYTH, ngày 25/12/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn T do thương tích gây nên là 17% (BL 62-63).

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2028/KLTTCT-PYTH, ngày 25/12/2023, Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa xác định: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Hữu T1 do thương tích gây nên là 08% (BL 106-107).

Tại bản kết định giá tài sản số 41/KL-HĐĐGTS, ngày 20/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã Nghi Sơn kết luận: 01 cốc thủy tinh, loại cốc có quai trong suốt, cốc cao 11,5cm, miệng cốc tròn có đường đính 08cm, đáy cốc tròn có đường kính 06cm đã qua sử dụng có giá trị là 20.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ 01 đoạn video được trích xuất từ camera an ninh của gia đình chị Trần Thị M, chủ quán Cây Xanh Quán ghi lại hình ảnh diễn biến vụ án cố ý gây thương tích nêu trên được lưu trữ trong 01 USB nhãn hiệu HP màu đen dung lượng 8GB. Kết luận giám định kỹ thuật số, điện tử số 1335/KL-KTHS, ngày 02/4/2024, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp video của 01 USB gửi giám định. Cơ quan giám định hoàn lại chiếc USB trên, kèm theo các tài liệu, hình ảnh được in từ đoạn video gửi giám định đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định (BL 143).

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:

  • 01 con dao bằng kim loại đã qua sử dụng, dao dài 34cm, cán dao bằng gỗ tròn dài 13 cm, đường kính 4,2cm, lưỡi dao dài 21cm, đầu mũi dao cắt vát (Do Đỗ Văn Long tự nguyện giao nộp);
  • 04 mảnh vỡ thủy tinh có kích thước, hình dạng khác nhau liên quan đến vụ cố ý gây thương tích (Do chị Trần Thị M tự nguyện giao nộp).

Quá trình điều tra xác định con dao thu giữ trên là tang vật liên quan đến hàng vi vi phạm hành chính của Đỗ Văn L nên Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an thị xã Nghi Sơn để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với vật chứng còn lại, hiện đang được bảo quản, chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Lê Văn T và Nguyễn Hữu T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, bị cáo H chưa thực hiện việc bồi thường thiệt hại.

Đối với thiệt hại của chiếc cốc thủy tinh bị vỡ khi H sử dụng làm hung khí gây án, chị Trần Thị M không yêu cầu H phải bồi thường

Tại bản Cáo trạng số 113/CT-VKSNS, ngày 01/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố Nguyễn Thành H về tội “Cố ý gây thương tích" theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích, đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/01/2024.

Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại do sức khỏe bị xâm phạm, cụ thể bồi thường cho bị hại Lê Văn T số tiền 36.520.000 đồng, bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu T1 số tiền 27.990.000 đồng.

Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu, tiêu hủy 04 mảnh vỡ thủy tinh có kích thước, hình dạng khác nhau

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi gây thương tích cho các bị hại như Cáo trạng đã truy tố; bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại Nguyễn Hữu T1 đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; bị hại Lê Văn T đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật và yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng. Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, của bị hại và người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 22/11/2023 tại quán “Cây Xanh Quán” ở tổ dân phố Liên Trung, phường Hải Thượng, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc ngồi uống cà phê, Nguyễn Thành H đã dùng cốc thủy tinh, là hung khí nguy hiểm đánh gây thương tích anh Nguyễn Hữu T1 và anh Lê Văn T, làm anh T1 bị tổn thương cơ thể 08%; anh T bị tổn thương cơ thể 17%.

Hành vi dùng cốc thủy tinh, là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu, mặt của anh Tăng và anh Tuyên gây thương tích cho 02 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 25%, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn. Vì vậy, ngoài tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, H còn phải chịu thêm tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với Trần Tồn K có hành vi cầm ghế nhưng không đánh ai; Đỗ Văn L có hành vi cầm dao chạy ra cửa quán với mục đích lùa đuổi theo T1 và T nhưng được mọi người can ngăn nên dừng lại. Hành vi của K và L diễn ra sau khi H đã đánh gây thương tích cho anh T1 và anh T, trước đó giữa H, K và L cũng không có bàn bạc, thống nhất về việc đánh anh T1 và anh T nên K và L không đồng phạm với H. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến hành vi của K và L cho Công an thị xã Nghi Sơn xử lý vi phạm hành chính theo quy định.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thành H khai trong quá trình xô xát đánh nhau với T1 và T, H bị một người cầm ghế đánh vào người, tuy nhiên quá trình điều tra không có căn cứ xác định ai là người đánh gây thương tích cho H. Do thương tích nhẹ nên H đã không yêu cầu khởi tố và từ chối đi giám định mức độ tổn hại sức khỏe nên không xem xét xử lý.

[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, làm mất trật tự trị an trên địa bàn. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự xã hội được duy trì, sức khỏe của công dân được bảo vệ; để giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu.
  • Tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối; tại phiên tòa bị hại Nguyễn Hữu T1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

HĐXX xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, phạm tội rất nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt bị cáo đã ngay tức khắc cầm cốc thủy tinh, là hùng khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu, mặt của anh T1 và anh T, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn; bị cáo đã bị kết án nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng hơn, thể hiện bị cáo không có khả năng tự cải tạo, nên cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị bị cáo. Thời gian bị cáo bị tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo.

[6] Về bồi thường thiệt hại:

* Bị hại Lê Văn T yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản như sau:

  • Tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa Hợp Lực Nghi Sơn 11 ngày theo hóa đơn.
  • Tiền xe đi lại từ nhà vào viện và ngược lại: 600.000 đồng.
  • Tiền mất thu nhập của vợ đi chăm sóc 11 ngày x 500.000 đồng/ngày = 5.500.000 đồng.
  • Tiền công bị mất thu nhập của bị hại 11 ngày điều trị tại bệnh viện và 90 ngày điều trị tại nhà do bị đứt gân ngón tay: 101 ngày x 450.000 đồng/ngày = 45.450.000 đồng.
  • Tiền tổn thất tinh thần là 23.400.000 đồng.

* Bị hại Nguyễn Hữu T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản như sau:

  • Tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa Hợp Lực Nghi Sơn 10 ngày theo hóa đơn.
  • Tiền xe đi lại từ nhà vào viện và ngược lại: 600.000 đồng.
  • Tiền thuê xe từ bệnh viện Hợp Lực ra thành phố Thanh Hóa giám định sức khỏe hai ngày là 2.000.000 đồng.
  • Tiền mất thu nhập của vợ đi chăm sóc 10 ngày x 250.000 đồng/ngày = 2.500.000 đồng.
  • Tiền công bị mất thu nhập của bị hại 10 ngày điều trị tại bệnh viện và 30 ngày điều trị tại nhà mỗi ngày 400.000 đồng = 16.000.000 đồng.
  • Tiền tổn thất tinh thần là 23.400.000 đồng.

Đối với yêu cầu bồi thường của các bị hại, bị cáo đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào thực tế thương tích của các bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chỉ có căn cứ chấp nhận các khoản bồi thường là chi phí hợp lý liên quan đến việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe của các bị hại như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cụ thể:

1. Đối với bị hại Lê Văn T:

  • Tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa quốc tế Hợp Lực (Có hóa đơn kèm theo) là 8.260.000 đồng.
  • Tiền xe đi lại từ nhà đến bệnh viện 2 lượt = 600.000 đồng.
  • Tiền ngày công lao động bị mất của bị hại và người chăm sóc tính từ ngày ngày 23/11/2023 đến 03/12/2023 là 11 ngày x 300.000đ/ngày/2 người = 6.600.000 đồng (Tính theo mức thu nhập bình quân của người lao động tại địa bàn).
  • Tiền tổn thất tinh thần = 21.060.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Văn T là: 36.520.000 đồng.

1. Đối với bị hại Nguyễn Hữu T1:

  • Tiền viện phí tại bệnh viện đa khoa quốc tế Hợp Lực (Có hóa đơn kèm theo) là 5.390.000 đồng.
  • Tiền xe đi lại từ nhà đến bệnh viện 2 lượt = 600.000 đồng.
  • Tiền ngày công lao động bị mất của bị hại và người chăm sóc tính từ ngày ngày 22/11/2023 đến 01/12/2023 là 10 ngày x 300.000đ/ngày/2 người = 6.000.000 đồng (Tính theo mức thu nhập bình quân của người lao động tại địa bàn).
  • Tiền tổn thất tinh thần: 16.000.000 đồng.

Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu T1 là: 27.990.000 đồng.

Đối với các khoản yêu cầu bồi thường khác của bị hại bao gồm tiền chi phí điều trị tại nhà 90 ngày của bị hại Lê Văn T; tiền chi phí điều trị 30 ngày tại nhà và tiền chi phí giám định sức khỏe của bị hại Nguyễn Hữu T1. Hội đồng xét xử xét thấy sau khi điều trị tại bệnh viện đa khoa quốc tế Hợp Lực các bị hại ra viện trong tình trạng ổn định, nên không có căn cứ chấp nhận các chi phí điều trị tại nhà của các bị hại; đối với chi phí giám định theo yêu cầu của bị hại T, khoản chi phí này do cơ quan trưng cầu giám định chi trả nên không có căn cứ chấp nhận.

[7] Xử lý vật chứng: 04 mảnh vỡ từ cốc thủy tinh là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Có nghĩa vụ bồi thường nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố Nguyễn Thành H, phạm tội Cố ý gây thương tích.
  2. Xử phạt Nguyễn Thành H 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 01 năm 2024.
  3. Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 584, 585 và Điều 590 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Văn T số tiền là 36.520.000 đồng; bồi thường cho bị hại Nguyễn Hữu T1 số tiền là 27.990.000 đồng.
  4. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, đến thời điểm thi hành án, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án số tiền trên, nếu bên phải thi hành án không thi hành án thì hàng tháng còn phải chịu thêm phần lãi suất, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

  5. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  6. Tịch thu, tiêu hủy 04 mảnh vỡ từ cốc thủy tinh có kích thước, hình dạng khác nhau được đựng trong một thùng bìa cát tông, dán kín niêm phong có chữ ký, chữ viết của các thành phần tham gia và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.

    ( Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK2024/97 ngày 02/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).

  7. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.225.500 đồng (ba triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn, năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  8. Quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • CQCSĐT CA thị xã Nghi Sơn;
  • THADS thị xã Nghi Sơn;
  • Bị cáo;
  • Bị hại;
  • Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành H cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger