|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HS - ST Ngày: 17 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Loan.
- Ông Phạm Văn Bình.
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Thanh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân quận Thanh Xuân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Tùng Lâm - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2024/TLST - HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1994 tại Nam Định.
Nơi thường trú: xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; có vợ là Vũ Thị Thanh T3 và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn tạm giữ ngày 18/01/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Như Đ, sinh năm 1995; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; chỗ ở hiện nay: số B M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 2003; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: ký túc xá 15 tầng, trường Đại học Y, quận Đ, thành phố Hà Nội. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn T1, sinh năm 1973; nơi thường trú: xóm B, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Có mặt.
- Người làm chứng: : Anh Trần Văn K, ông Tạ Xuân N. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T và Nguyễn Viết P quen nhau do P đã từng đi xe ôm của T. Quá trình nói chuyện, P biết T chạy xe ôm thu nhập thấp nên bảo T đi cùng với P, mỗi lần P cho T 1.000.000 đồng.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 06/9/2023, P điện thoại rủ T trưa hôm sau đến đón P tại N (P không nói đi đâu, làm gì), T đồng ý. Trưa ngày 07/9/2023, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng, BKS 29E1-370.06 đến đón P tại gầm cầu vượt N. P bảo T chở đi lòng vòng các tuyến phố. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đến ngõ B đường M, phường M, quận N, Hà Nội, P bảo T dừng lại ở đầu ngõ rồi một mình đi vào trong. T thấy P tiến vào cạnh chiếc xe máy Honda Wave màu trắng (T không nhớ rõ biến kiểm soát) một lúc rồi nổ máy điều khiển ra chỗ T đang đứng và bảo T đi theo. Lúc này, T biết P vừa trộm cắp chiếc xe máy trên. T điều khiển xe máy đi theo P đến khu vực đường P (Trường không nhớ rõ địa chỉ). Tại đây, P đưa cho T số tiền 1.000.000 đồng. T hiểu đây là tiền Phương trả công Trường chở P đi trộm cắp tài sản. Sau đó, T điều khiển xe máy về và tiêu xài hết số tiền trên.
Đến tối cùng ngày 07/9/2023, P tiếp tục gọi cho T hẹn trưa ngày 08/9/2023 đến Ngã Tư S để gặp P, P nói là đã có xe nên bảo T đi xe ôm đến. T hiểu P tiếp tục rủ T đi trộm cắp tài sản nên đồng ý. Khoảng 11 giờ ngày 08/9/2023, T bắt xe ôm đến điểm hẹn. Tại đây, P đưa cho T chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc trộm cắp được ngày 07/9/2023 đề T chở P đi trộm cắp tài sản. Trên đường đi, cả hai thống nhất phân công P sẽ trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản còn T cảnh giới, ngồi trên xe và nổ máy xe chờ sẵn để nếu bị phát hiện sẽ chở P tẩu thoát. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến ngách A phố N, phường P, quận T, Hà Nội, Phương Phát hiện xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc đeo BKS: 19S1-389.11 đang dựng sát tường đối diện nhà số E ngách A phố N không có người trông coi. T dừng xe cách đó khoảng 03 mét ngồi trên xe nổ máy sẵn còn P tiến lại gần chiếc xe trên. Tiếp đó, P ngồi lên xe, tay phải nắm vào tay lái bên phải của xe, chân phải đặt vào tay lái bên trái của xe, đồng thời dùng tay phải kéo, chân phải đấy. Lúc này, anh Nguyễn Thanh B phát hiện, đã hô hoán "trộm" nên T lập tức phóng xe để tẩu thoát còn P bị người dân bắt giữ và báo cơ quan Công an đến giải quyết. T đi xe đến khu vực Cầu M hướng đi N thì bỏ lại chiếc xe. Do sợ bị bắt giữ, T đã bỏ trốn, không về nhà. Sau đó, T nhận thức được hành vi của mình nên đã đến Cơ quan Công an để đầu thú về toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 172/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tổ tụng hình sự kết luận:
3
+ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, đeo BKS 90B2- 531.54, dung tích xi lanh 109cc; Số khung: 3902HY230402, Số máy: JA39E0230402, sản xuất năm 2017, đăng ký lần đầu ngày 20/9/2017, đã qua sử dụng, tài sản chưa thu giữ được. Thời điểm định giá tháng 9/2023 có giá là 8.000.000 đồng.
+ 01 xe máy nhân hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, đeo BKS 19S1-389.11, dung tích xi lanh 109cc; Số khung: RLHJA3925NY403942; Số máy: JA39E2818065, sản xuất năm 2022 đăng ký lần đầu ngày 20/9/2022, đã qua sử dụng, tài sản thu giữ được. Thời điểm định giá tháng 9/2023 có giá là: 15.000.000 đồng.”
Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 23.000.000 đồng.
Tại Bản án số 01/2024/HS-ST ngày 04/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân xử phạt Nguyễn Viết P 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản và phải bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Như Đ số tiền 8.000.000 đồng (tám triệu đồng).
Bản Cáo trạng số 62/CT - VKSTX ngày 08 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và luận tội có quan điểm: vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng và đề nghị Thẩm phán chủ tọa phiên tòa:
- Về trách nhiệm hình sự: đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND nơi cư trú để quản lý, giáo dục. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
- Về các biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Phạm Văn T nộp số tiền 1.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có sung ngân sách nhà nước.
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận gì đối với luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội về chăm sóc con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy
4
định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá về hành vi của bị cáo theo tội danh, khoản, Điều của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân đã truy tố:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn T đều khai nhận:
Bản thân bị cáo có làm nghề xe ôm công nghệ. Khoàng tháng 8/2023 Nguyễn Viết P thông qua việc đặt xe và có quen biết đối với bị cáo. Quá trình quen biết thì P có hỏi bị cáo về thu nhập đối với việc chạy xe ôm trên. Bị cáo có nói với P là thu nhập thấp nên P đề nghị bị cáo muốn kiếm thêm thu nhập thì đi cùng với P và P sẽ cho bị cáo số tiền là 1.000.000 đồng. Khoảng 18 giờ 30 ngày 06/9/2023 P có gọi điện cho bị cáo đến là hôm sau đến đón tại Ngã Tư S nhưng không nói đi đâu và làm gì. Hôm sau, bị cáo đến đón P và đi lòng vòng qua các tuyến phố. Khi đến khu vực ngõ B M thì bị cáo thấy P thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, đeo BKS: 90B2 - 531.54. Sau khi trộm cắp được chiếc xe trên thì P điều khiển chiếc xe máy vừa trộm cắp được còn bị cáo đi xe máy của bị cáo theo P, khi đến khu vực đường P thì P có đưa cho bị cáo 1.000.000 đồng. Bị cáo nhận thức được đây là số tiền mà P trả công cho bị cáo để chở P đi trộm cắp tài sản. Tối ngày 07/9/2023, P tiếp tục hẹn bị cáo hôm sau gặp P tại gầm cầu N và bảo bị cáo đi xe ôm đến. Khoảng 11 giờ ngày 08/9/2023, bị cáo có đi xe ôm đến gầm cầu N và P có đưa cho bị cáo 01 chiếc xe máy. Bị cáo tiếp tục chở P đi lòng vòng tìm tài sản trộm cắp. Khi đến ngách 168/54 Nguyễn L thì bị cáo đứng ngoài cảnh giới và P thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, đeo BKS: 19S1 - 389.11. Ngay lúc đang thực hiện hành vi trộm cắp thì chủ chiếc xe phát hiện và hô hoán mọi người đến bắt được P. Khi thấy P bị phát hiện, bị cáo vội tẩu thoát. Khi chạy đến khu vực Cầu M, bị cáo đã bỏ lại chiếc xe mà P đưa cho bị cáo. Do sợ bị bắt giữ nên bị cáo đã trốn lên Phú Thọ. Đến ngày 09/01/2024, bị cáo đã đến cơ quan Công an để đầu thú.
Xét thấy: lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 172/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự kết luận:
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, đeo BKS 90B2-531.54, dung tích xi lanh 109cc; Số khung: 3902HY230402; Số máy: JA39E0230402, sản xuất năm 2017, đăng ký lần đầu ngày 20/9/2017, đã qua sử dụng, tài sản chưa thu giữ được. Thời điểm định giá tháng 9/2023 có giá là: 8.000.000 đồng.
+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, đeo BKS 1951 -
5
389.11, dung tích xi lanh 109cc; Số khung: RLHJA3925NY403942; Số máy: JA39E2818065, sản xuất năm 2022 đăng ký lần đầu ngày 20/9/2022, đã qua sử dụng, tài sản thu giữ được. Thời điểm định giá tháng 9/2023 có giá là: 15.000.000 đồng."
Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 23.000.000 đồng.
Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận: vào ngày 07/9/2023 bị cáo Phạm Văn T cùng Nguyễn Viết P đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen bạc, BKS: 90B2 - 531.54 (trị giá 8.000.000 đồng) của anh Nguyễn Như Đ tại ngõ B đường M, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Ngày 08/9/2023 bị cáo Phạm Văn T tiếp tục cùng Nguyễn Viết P có hành vi trộm cắp chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, BKS: 19S1 - 389.11 (trị giá 15.000.000 đồng) của anh Nguyễn Thanh B tại ngách A, phố N, phường P, quận T, thành phố Hà Nội. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo T trộm cắp là: 23.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, bản Cáo trạng số 62/CT - VKSTX ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và lời buộc tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và luận tội tại phiên tòa là có đủ cơ sở, cần được chấp nhận.
[3] Về trách nhiệm dân sự:
Trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo Phạm Văn T đã tự nguyện thay Nguyễn Viết P bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Như Đ số tiền là 8.000.000 đồng để bồi thường hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Anh Đ đã nhận số tiền bồi thường và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Xét thấy, đây là sự tự nguyện của bị cáo T nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện trên. Giành quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác cho bị cáo Phạm Văn T đối với Nguyễn Viết P nếu một trong các bên có yêu cầu.
Anh Nguyễn Thanh B đã nhận lại tài sản của mình và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú và bị hại là anh Nguyễn Như Đ và anh Nguyễn Thanh B có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức, lái xe chở P để P trực tiếp thực hiện hành vi
6
trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hướng xử lý đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ nhận thức. Do đó, cần phải bị xử lý thật nghiêm trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T, trên cơ sở các quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/ NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (đã được Tòa án nhân dân tối cao hợp nhất tại Văn bản số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022), xét thấy chỉ cần áp dụng mức hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là đủ tác dụng giáo dục, răn đe, và đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Xét thấy, bị cáo không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác của vụ án:
- Đối với số tiền 1.000.000 đồng mà bị cáo đã nhận của Nguyễn Viết P vào ngày 06/9/2023, đây là số tiền mà bị cáo Phạm Văn T thu lời bất chính do phạm tội mà có nên cần buộc bị cáo Phạm Văn T nộp lại số tiền trên vào ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 29E1-370.06 mà bị cáo T sử dụng chở P đi trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của ông Phạm Văn T1 là bố đẻ của bị cáo T, đăng ký chủ sở hữu tên anh Đỗ Quốc A. Anh A mua chiếc xe tháng 7/2012, đến năm 2016 bán cho người không quen biết và không còn thông tin về người mua. Qua tra cứu chiếc xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Ông T1 khai mua chiếc xe này từ tháng 6/2016 của người không quen biết nhưng chưa thực hiện sang tên đổi chủ. Đến khoảng tháng 8/2023, ông T1 cho bị cáo T mượn sử dụng làm phương tiện đi lại. Hiện nay, bị cáo T đã trả lại xe cho ông T1. Ông T1 không biết bị cáo T sử dụng chiếc xe trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1 Điều 47; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Điểm d khoản 1 Điều 125; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội: "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Phạm Văn T 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/5/2024).
Giao bị cáo Phạm Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phạm Văn T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân xã T, huyện T, tỉnh Nam Định trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về biện pháp tư pháp: buộc bị cáo Phạm Văn T phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) đã thu lợi bất chính.
5. Về biện pháp ngăn chặn: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đã áp dụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với bị cáo Phạm Văn T.
6 .Về quyền kháng cáo: bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Huyền |
Bản án số 101/2024/HS - ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 101/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn T phạm tội trộm cắp tài sản
