TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 101/2024/HSST | |
Ngày: 17/5/2024 |
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền
Ông Trương Công Tráng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Thư ký Toà án nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Hà Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/TLST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
-Dương Đoàn T, sinh ngày 15 tháng 4 năm 1998 tại Nam Định; Nơi thường trú: xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện tại: số A ngõ D, phường V, quận H, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: D1 sinh năm 1971; Con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1973, cùng HKTT tại xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 26/12/2023 đến ngày 04/01/2024. Tạm giam từ ngày 04/01/2024 đến nay. Hiện Bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H
Tiền án, tiền sự: Không.
(Có mặt tại phiên tòa).
-Người bị hại: Chị Cao Thị C, sinh năm 1995, Nơi thường trú: thôn D, S, Q, tỉnh Nghệ An
(Vắng mặt và có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 30 phút sáng ngày 26/12/2023, Dương Đoàn T làm nghề lái xe ôm, điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 18H1-24151 đứng đợi khách ở cổng làng Đ, phường M, quận N, Hà Nội thì có một nam giới tên H thuê T về H. Trên đường đi, H rủ T cướp giật tài sản, T đồng ý. H và T thống nhất H khiển xe máy, còn T ngồi sau sẽ giật tài sản. Khi đi đến ngõ A, phường V, quận H, Hà Nội T và H thấy chị Cao Thị C đứng ở đầu ngõ, tay cầm điện thoại. Thấy vậy, H xe cách vị trí chị C khoảng 10 đến 20 mét. T xuống xe đi bộ sau lưng chị C lợi dụng lúc chị C hở, T điện thoại trên tay chị C bỏ chạy về phía H dừng xe máy. Thấy chị C theo tri hô, H xe máy bỏ chạy. T vứt chiếc điện thoại xuống đường, bỏ chạy tiếp thì bị tổ công tác Công an phường V phát hiện, bắt giữ, đưa người và tang vật về trụ sở. Tại cơ quan công an, T nhận hành vi như trên.
Vật chứng thu giữ:
-01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng (gold), dung lượng 128GB, số Imei 1: 35670112033370, số Imei 2: 35670112479854 (cũ, đã qua sử dụng)
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 307/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận H:
-Giá trị thiệt hại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng (gold), dung lượng 128Gb, số Imei 1 : 35670112033370, số Imei 2:35670112479854 (cũ, đã qua sử dụng) trị giá: 16.800.000₫ (Mười sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
Ngày 12/01/2024, Cơ quan điều tra Công an quận H trả lại tài sản là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng, dung lượng 128GB, số IMEI: 35670112033370, số IMEI 2:35670112479854 (cũ, đã qua sử dụng) cho chủ sở hữu là Cao Thị C (theo quyết định xử lý vật chứng số 322/QĐ-ĐTTH ngày 11/01/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra).
Tài liệu có trong hồ sơ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Dương Đoàn T như sau:
-Tại Cơ quan điều tra, Dương Đoàn T khai: T làm xe ôm chở khách. Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 26/12/2023, T khiển xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 18H1-24151 đứng đợi khách ở cổng làng Đ, phường M, quận N có một nam giới đến thuê T về khu vực H. Trên đường đi, T và người nam giới nói chuyện với nhau. Người nam giới nói tên là H năm 1988, quê ở Hưng Yên. H hỏi T “sao không chạy ban ngày mà chạy ban đêm”. T trả lời: “vì điện thoại e bị hỏng nên phải chạy khách tự do, ai vẫy thì chở”. H nói: “có làm vụ không?”, T: “vụ gì?”, H lời: “thấy mấy người cầm điện thoại trên tay khi đi trên đường không?”. Thiểu ý của H rủ T cướp giật điện thoại của người đi đường, T đồng ý. Khi đi đến nút giao Khu A T bảo với T để H lái xe vì H quen đường và tay lái của H chắn còn T ngồi sau để giật tài sản. T đồng ý và đổi lái. Đến khoảng 05 giờ 15 phút sáng, cả hai đi đến siêu thị M 131 T, V, H T nhìn thấy một người phụ nữ đứng ở đầu ngõ, trên tay cầm một điện thoại, quay mặt vào tường, quay lưng ra ngoài (quá trình làm việc với cơ quan điều tra T mới biết người phụ nữ tên là Cao Thị C năm 1995, trú tại: thôn D, xã S, Q, N An). H điều khiển xe máy dừng cách vị trí chị C 10m đến 20m. T xuống xe đi bộ tiến lại gần chị C. Chị C nhìn thấy T dùng tay phải nhanh chóng giật chiếc điện thoại trên tay chị C bỏ chạy ra chỗ H đứng đợi nhưng chị C hô đuổi theo nên H phóng xe bỏ chạy trước. T tiếp tục chạy về hướng T - H. Khi đến khu vực vỉa hè trước cổng trường đại học K, T vứt lại chiếc điện thoại vừa cướp giật được rồi chạy tiếp đến khu vực ngõ E N thì bị lực lượng công an bắt giữ, lập biên bản, thu giữ điện thoại và đưa về trụ sở. T cướp giật điện thoại với mục đích để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, ngoài hành vi giật điện thoại của chị C có hành vi đe dọa hay sử dụng vũ lực với chị C
-Đối với đối tượng tên H theo lời khai của Dương Đoàn T và video thu giữ được, cơ quan điều tra xác định: Ngày 26/12/2023, H (chưa xác định được nhân thân) có đặc điểm nhận dạng: cao khoảng 1m75, dáng người đậm, mặc quần bò, áo phao tối màu, đi giày) điều khiển xe máy chở theo T thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị Cao Thị C trình T thực hiện hành vi cướp giật tài sản, H dừng xe đứng đợi ở ngoài đường. Hành vi của H dấu hiệu đồng phạm Cướp giật tài sản với Dương Đoàn T với hành vi H phóng xe máy bỏ chạy khi chị C hô, chưa đủ căn cứ xác định H mục đích chiếm đoạt xe máy của T. Ngoài lời khai của Dương Đoàn T ra không có tài liệu nào xác định được nhân thân của H
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, gắn BKS: 18H1-241.51, quá trình T thực hiện hành vi cướp giật tài sản của chị C H dừng xe đợi T ở bên ngoài, khi thấy chị C hô, H phóng xe bỏ chạy trước. Cơ quan điều tra chưa thu giữ được chiếc xe trên.
Theo lời khai của Dương Đoàn T khai của anh Nguyễn Văn C (sinh năm 1971, HKTT: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định và kết quả tra cứu dữ liệu giao thông xác định: Chiếc xe máy H điều khiển và bỏ chạy là chiếc xe máy BKS: 18H1-241.51 của anh Nguyễn Văn C Trọng mượn từ tháng 11/2023 để làm xe ôm G (anh C là bác ruột của T). Việc T sử dụng xe để cướp giật tài sản, anh C không biết. Anh C không có yêu cầu gì với chiếc xe máy nêu trên vì xe đã cũ, giá trị xe không đáng kể.
Ngày 22/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H Quyết định số 1708/QĐ-ĐTTH tách hành vi và tài liệu liên quan đối với đối tượng tên H và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, gắn BKS: 18H1-241.51 để tiếp tục xác minh làm rõ.
Đối với người bị hại là chị Cao Thị C, sinh năm: 1995; HKTT: Thôn D, xã S, Q, N chủ sở hữu hợp pháp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng (gold), dung lượng 128Gb, số IMEI 1: 35670112033370, số IMEI 2: 35670112479854 (cũ, đã qua sử dụng). Ngày 12/11/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho chị C. Chị C nhận lại điện thoại, không có đề nghị gì khác
Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKS-HĐ ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội đã truy tố Dương Trọng Đ theo khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự về tội “Cướp giật tài sản”.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Trọng Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố, bị cáo không kêu oan, lời nói sau cùng bị cáo xin được khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình, làm lại cuộc đời.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tại phiên tòa: giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản cáo trạng số 78/CT-VKS-HĐ ngày 08/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, lời khai nhận tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Xử phạt Dương Đoàn T: 02 năm (hai năm) đến 02 năm 06 tháng (hai năm sáu tháng) tù về tội “Cướp giật tài sản”.
-Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Cao Thị C nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Hành vi phạm tội và tội danh:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Dương Đoàn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp kết luận giám định vật chứng của phòng K công an thành phố H khai của người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đầy đủ cơ sở kết luận: Khoảng 05 giờ 15 phút sáng ngày 26/12/2023, tại A, phường V, quận H, TP Hà Nội, lợi dụng sơ hở của chị Cao Thị C, Dương Đoàn T đã có hành vi cướp giật tài sản của chị Cao Thị C là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng (gold), dung lượng 128Gb, số IMEI 1: 35670112033370, số IMEI 2:35670112479854 (cũ, đã qua sử dụng). Trị giá điện thoại chiếm đoạt là 16.800.000đ (Mười sáu triệu tám trăm ngàn đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Cướp giật tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân. Hành vi của bị cáo không những gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà còn có nguy cơ tiềm ẩn các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần thiết phải khởi tố, truy tố, đưa ra xét xử đối với bị cáo và áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng đấu tranh, phòng chống tội phạm đang ngày càng gia tăng trên địa bàn thủ đô và cả nước.
[3].Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:
-Nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
-Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân không có tiền án tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Trách nhiệm dân sự:
- Người bị hại là chị Cao Thị C đã được cơ quan cảnh sát điều tra trả lại điện thoại, chị C có đề nghị gì khác. Tại tòa án, chị C có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và có đơn xin vắng mặt, vì vậy tòa án không xem xét.
[5]. Các vấn đề khác của vụ án
-Đối với đối tượng tên H ngoài lời khai của Dương Đoàn T ra không có tài liệu nào xác định được nhân thân của H với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, gắn BKS: 18H1-241.51, đối tượng tên H điều khiển xe máy bỏ chạy, cơ quan điều tra chưa thu giữ được chiếc xe. Ngày 22/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H Quyết định số 1708/QĐ-ĐTTH tách hành vi và tài liệu liên quan đối với đối tượng tên H và chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, gắn BKS: 18H1-241.51 để tiếp tục xác minh làm rõ là phù hợp.
[6]. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo không có công việc ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Xử lý vật chứng.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax, màu vàng (gold), dung lượng 128Gb, số IMEI 1: 35670112033370, số IMEI 2:35670112479854 (cũ, đã qua sử dụng). Ngày 12/11/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận H trả cho chị Cao Thị C - chủ sở hữu là phù hợp quy định pháp luật.
[8] Án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Dương Đoàn Trọng phạm tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi bổ sung năm 2017).
- Áp dụng: khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38, Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt Dương Đoàn Trọng 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2023.
- Án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án:
Bị cáo Dương Đoàn T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người bị hại - chị Cao Thị C quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 101/2024/HSST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp giật tài sản (tội phạm hình sự)
- Số bản án: 101/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Tội phạm hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Đoàn Trọng
