Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ UÔNG BÍ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày 16/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Xuyến.
  2. Ông Thái Quang Định.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST- HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Duy T, sinh ngày 06 tháng 3 năm 1986 tại thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: tổ B, khu L, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy N (đã chết) và bà Đỗ Thị H; có vợ là Bùi Thị H1, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/10/2006 bị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 năm tù về tội: “Cướp tài sản”, 01 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt chung của 3 tội là 14 năm tù, ngày 29/01/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; Bị cáo bị giữ người trong trường hợp bắt khẩn cấp và bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/9/2024, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên toà.

2. Người làm chứng:

Anh Nguyễn Đình N1, sinh năm 1991.

Địa chỉ: tổ A, khu G, phường B, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

Anh Vũ Trọng N2, sinh năm 1989.

Địa chỉ: thôn A, xã G, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

3. Người chứng kiến:

Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960.

Địa chỉ: tổ D, khu T, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên toà không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, Nguyễn Duy T đang ở khu vực phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh thì nhận được điện thoại của Nguyễn Đình N1 (sinh năm 1991, trú tại tổ C, khu F, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh) hỏi mua 500.000 đồng ma túy loại đá, T đồng ý rồi thỏa thuận bảo N1 chuyển trước tiền vào tài khoản ngân hàng A của T, rồi hẹn N1 đến tối giao hàng. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, N1 nhờ Vũ Trọng N2 chở đến nhà T ở gần trường C thuộc phường P, thành phố U để lấy ma tuý. Tại đây, T đưa cho N1 01 gói giấy vệ sinh nhỏ màu trắng, bên trong có chứa túi ma túy, N1 cầm rồi nhờ N2 chở về. Khi về đến nhà, N1 đem một phần ma túy vừa mua được ra cho vào bộ dụng cụ của mình để hút. Đến khoảng 11 giờ ngày 05/9/2024, N1 đem số ma túy còn lại đến bãi đất trống thuộc tổ C, khu B, phường P, thành phố U để sử dụng. Khi vừa hút xong thì bị Công an thành phố U phát hiện kiểm tra. Vật chứng thu giữ: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nhựa màu trắng 500ml, nắp chai được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, dài khoảng 20cm); 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đen, gắn sim số 0899.994.506 và thu mẫu nước tiểu của N1.

Ngay sau đó N1 khai: ma tuý vừa sử dụng là mua của Nguyễn Duy T, nhà ở phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 04/9/2024.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành bắt, khám xét khẩn cấp nơi ở N tại tổ B, khu L, phường P, thành phố U. Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động SAMSUNG màu xanh đen, gắn sim số 0389.627.786; thu trong bếp 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai đục 02 lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, dài 20cm); 01 bật lửa ga; 02 túi nilon kích thước (2,5 x 2,5)cm, bên trong dính vết màu trắng và thu mẫu nước tiểu của T.

Tại Bản Kết luận giám định số 1443/KL-KTHS ngày 12/9/2024 và Bản Kết luận giám định số 1458/KL-KTHS ngày 13/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:

  • + Chất dạng vết màu đen trong 01 ống thủy tinh thu giữ của Nguyễn Đình N1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng dạng vết không xác định;
  • + Chất dạng vết màu nâu trong 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong và chất bột màu trắng dạng vết trong 02 túi nilon có cùng kích thước (2,5 x 2,5)cm thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Duy T là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng dạng vết không xác định được;
  • + 02 mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Đình N1 và Nguyễn Duy T đều dương tính với M.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, Nguyễn Duy T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Ngoài ra T còn khai: nguồn gốc ma túy, vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, T mua của người đàn ông không quen biết 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng tại khu vực chợ T3, thành phố Hải Phòng. Sau đó, T mang ma túy về nhà, lấy một ít cho vào bộ dụng cụ của mình sử dụng, số ma túy còn lại Toán bán cho Nguyễn Đình N1; còn 02 vỏ túi nilon Công an thu giữ là trước đó đựng ma túy đá T mua của người không quen biết, đã sử dụng hết.

Người làm chứng anh Nguyễn Đình N1, anh Vũ Trọng N2 và người chứng kiến anh Nguyễn Văn T1 đều có lời khai trong quá trình điều tra phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại Cáo trạng số 2367/CT - VKSUB ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Duy T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với Nguyễn Duy T như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T từ 24 tháng tù đến 30 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tình từ ngày 05/9/2024.

Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 1443/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q; 02 (hai) bật lửa ga; 02 (hai) chai nhựa màu trắng nắp chai được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng dài 20cm và sim điện thoại số 0389.627.xxx.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu xanh đen.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải nộp 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng) vào ngân sách nhà nước.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; lời khai của bị cáo còn phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp hồi 15 giờ 50 phút ngày 05/9/2024 của Công an thành phố U, vật chứng thu giữ của bị cáo, kết luận giám định ma túy, biên bản khám xét và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 04/9/2024, tại khu vực trường C thuộc phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Duy T có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy, loại Methamphetamine, với giá 500.000 đồng cho Nguyễn Đình N1.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, do vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Hình phạt chính:

Về tính chất, mức độ phạm tội bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội. Vì vậy phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo tính giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tuy nhiên bị cáo đã từng bị Toà án kết tội, tuy đã được xoá án tích nhưng nay lại tiếp tục phạm tội, do đó cũng cần xét xét khi lượng hình đối với bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo có bố là ông Nguyễn Duy N được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến, có anh ruột là Nguyễn Duy T2 là liệt sĩ được nhà nước cấp bằng Tổ quốc ghi công, mẹ bị cáo tuổi cao, đang nằm liệt do bị tai nạn giao thông nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật..Từ những đánh giá, phân tích nêu trên, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Để tăng cường biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm nói chung cũng như để giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo, cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để bị cáo rèn luyện, giáo dục và sửa chữa lỗi lầm của bản thân để trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật.

[3.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đồng (năm triệu đồng) đến 500.000.000đồng (năm trăm triệu đồng). Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang chấp hành hình phạt nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 1443/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định; 02 (hai) bật lửa ga, 02 (hai) chai nhựa màu trắng nắp chai được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng dài 20cm không có giá trị và không sử dụng được nên tịch thu và tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu xanh đen, bên trong gắn sim số 0389.627.786 tạm giữ của bị cáo Nguyễn Duy T, bị cáo đã dùng để liên lạc mua bán ma túy nên chiếc điện thoại cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, đối với sim điện thoại số 0389.627.xxx cần tịch thu, tiêu hủy.

Bị cáo Nguyễn Duy T bán ma túy cho Nguyễn Đình N1 được 500.000đồng, đây là số tiền do phạm tội mà có nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[5] Về các vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Đình N1, có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an Thành phố U đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính; còn đối tượng bán ma túy cho T do không rõ lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 05 tháng 9 năm 2024.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Căn cứ: điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định số: 1443/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Q; 02 (hai) bật lửa ga; 02 (hai) chai nhựa màu trắng nắp chai được đục 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn ống nhựa màu trắng dài 20cm và sim điện thoại số 0389.627.xxx.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, vỏ màu xanh đen.
  • (Tình trạng và đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng hồi 15 giờ 00 phút, ngày 02 tháng 12 năm 2024 giữa Công an thành phố U và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh).
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải nộp 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng) vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí:

Căn cứ: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí, lệ phí Toà án của Nghị quyết số 326/2016/UBNTQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Nguyễn Duy T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo:

Căn cứ: Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo.
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Uông Bí;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Uông Bí;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Uông Bí;
  • - CQTHAHS Công an thành phố Uông Bí;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ
  • Công an thành phố Uông Bí;
  • - Chi cục THADS thành phố Uông Bí;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh.
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy (illegal trading of narcotics)

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Illegal trading of narcotics)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy T - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger