Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 101/2023/HS-ST

Ngày: 16-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Duy Phi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Luyện, ông Hoàng Văn Hào

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thị T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29 tháng 04 năm 1979; Nơi sinh: huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Phạm Thành Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1 (đã chết); Chồng là Bùi Văn V, sinh năm 1975; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo Phạm Thị T không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện nay đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  • Người bị hại: Bà Nguyễn Thị L (đã chết).
  • Người đại diện hợp của bị hại Nguyễn Thị L là chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Lê Tuệ N, sinh năm 2018. Người đại diện của cháu N là chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1983, nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 9 giờ 30 phút, ngày 28/7/2023, bị cáo Phạm Thị T có Giấy phép lái xe số [...], bằng B2, cấp ngày 09/09/2015 có giá trị đến ngày 09/09/2025, điểu khiển xe ô tô con hiệu Hyundai, màu xanh, biển kiểm soát 37A-388.91 đi từ hướng huyện D, tỉnh Nghệ An lên thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đi đến Km 28+300, đường quốc lộ 7A thuộc địa phận xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An (đoạn đường thẳng, không bị che khuất tầm nhìn). Lúc này bị cáo Phạm Thị T phát hiện một xe đạp diện do bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963, trú tại xóm Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An điểu khiển chở theo cháu Lê Tuệ N, sinh năm 2018 (cháu gái của bà L) phía trước, đi sát mép đường, di chuyển cùng chiều với xe của bị cáo. Tuy nhiên, khi bị cáp T điều khiển xe của mình gần với xe của bà L thì bị cáo T nhìn vào gương chiếu hậu bên trái để quan sát phía sau. Lúc này, do thiếu chú ý quan sát phía trước không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình dẫn đến ba đờ sốc trước ở góc trước bên phải của xe ô tô hiệu Hyundai BKS 37A-388.91 do bị cáo T điều khiển hướng đi từ huyện D lên thị trấn Đ đã đâm vào phần đuôi xe phía bên trái của xe đạp điện, không có biển số đi cùng chiều do bà Nguyễn Thị L chở theo cháu gái Lê Tuệ N. Cú đâm mạnh làm cho bà Nguyễn Thị L, cháu Lê Tuệ N và xe đạp điện văng về mép đường phía trước bên phải theo hướng di chuyển. Hậu quả, bà Nguyễn Thị L chết trên đường đi cấp cứu, cháu Lê Tuệ N được người nhà đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện S1, hai xe hư hỏng nhẹ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn được xác định là đoạn đường Quốc lộ 7A chạy qua xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Đường Quốc lộ 7A này là đoạn đường thẳng chạy theo hướng Tây – Đông, được rải nhựa tương đối bằng phẳng, hướng Tây đi thị trấn Đ, hướng Đ đi huyện D. Phần đường nhựa rộng 11,5m, ở giữa có vạch kẻ đứt quãng màu vàng, cách mép phía Bắc đường nhựa 5,85m, chia đường thành hai chiều xe chạy, mỗi bên có vạch kẻ liền gần mép đường. Hai bên là nắp mương nước, rộng 1m, tiếp đến về hai bên là vỉa hè. Hội đồng khám nghiệm quyết định lấy cột điện ở vỉa hè, phía

trước bên phải Công ty TNHH X (vỉa hè phía Bắc) làm điểm mốc, lấy mép phía Bắc đường nhựa làm chuẩn để đo. Đo phương pháp vuông góc.

Tại hiện trường có các dấu vết: Vùng vết cày kích thước (5,9x0,45)m, chiều hướng Đông Tây trên mặt đường nhựa, vết dài nhất dài 5,9m, đoạn đầu vùng vết cày có nhiều vết cày nhỏ không liên tục cùng chiều hướng. Vùng vết cày có điểm đầu cách mép phía Bắc đường Quốc lộ 7 (sau đây gọi là mép chuẩn) về phía Nam là 1,15m, điểm cuối cách mép chuẩn 0,15m về phía Bắc sang phần nắp mương. Điểm đầu vết cày cách mốc 5,8m về phía Tây. (Vị trí số 1); Xe đạp điện màu đen bạc không có biển kiểm soát ngã nghiêng bên trái trên phần nắp mương phía Bắc so với đường nhựa, đầu xe hướng phía Tây, đuôi xe hướng phía Đông. T trục bánh trước và tâm trục bánh sau lần lượt cách mép chuẩn về phía Bắc lần lượt là 0,65m và 0,5m. T trục bánh sau cách điểm đầu vết cày vị trí số (1) là 5,8m về phía Tây (Vị trí số 2); Vùng vết máu kích thước (0,80x0,5)m trên phần nắp mương, mép phía Đông cách tâm trục bánh sau xe đạp điện vị trí số (2) về phía Tây 5,5m, mép phía Nam cách mép chuẩn 0,6m về phía Bắc (Vị trí số 3); Vết phanh đơn có kích thước (5,75x0,09) m chiều hướng T trên mặt đường nhựa, có hơi chếch từ tâm đường nhựa ra mép đường chuẩn. Điểm đầu cách mép chuẩn 1,15m về phía Nam và cách tâm trục bánh sau xe đạp điện vị trí số (2) về phía Tây 18,5m, điểm cuối cách mép chuẩn 0,85m về phía Nam và trùng với vị trí mặt lăn bánh sau bên phải xe ô tô 37A-388.91 tại vị trí số 5 tiếp xúc mặt đường nhựa. Vết phanh dạng liên tục (Vị trí số 4); Xe ô tô biển kiểm soát 37A-388.91 dừng đỗ trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng phía Tây, đuôi xe hướng phía Đông, tâm trục bánh trước bên phải và tâm trục bánh sau bên phải lần lượt cách mép đường chuẩn lần lượt là 0,6m và 0,84m, tâm trục bánh sau bên phải cách tâm trục bánh sau xe đạp điện vị trí số 2 về phía Tây 24,2m (Vị trí số 5).

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe ô tô biển số 37A-388.91: Nhãn hiệu xe Hyundai loại ô tô con, sơn xe màu xanh. Kích thước bao (4760x1680x1960)mm; chiều dài cơ sở 2440 mm. Dấu vết trên phương tiện: Góc trước bên phải ba đờ sốc trước có vùng dấu vết trượt xước, móp lõm sơn kim loại trên diện kích thước (45x40)cm, một số vị trí bị bong tróc sơn tít, mất sơn màu xanh, trên bề mặt vùng dấu vết này có bám dính chất màu trắng dạng sơn, chiều hướng dấu vết từ trước về sau, vị trí cao nhất và thấp nhất cách mặt đất lần lượt là 73cm và 35cm. Đèn chiếu sáng bên phải phía trước đầu xe bị đẩy theo

chiều hướng từ trước ra sau; đèn xin đường phía trước bên phải bị bung rời khỏi chốt cố định, mặt ngoài kính đèn này bị trượt sạch bụi đất chiều hướng từ trước về sau, vị trí phía trên cao cách đất 72cm; tiếp sát kính đèn xin đường này ở mặt trước ốp kim loại góc bên phải đầu xe có vùng dấu vết trượt xước, móp lõm kim loại trên diện có kích thước (13x15)cm, bề mặt bám dính chất bẩn và các đường kẻ nhỏ song song. Mặt ngoài cánh cửa trước bên phải xe có vùng dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh trên diện có kích thước (90x50)cm, chiều hướng dấu vết từ trước về sau, bề mặt dấu vết bám dính chất màu trắng dạng sơn, vị trí cao nhất và thấp nhất cách mặt đất lần lượt là 83cm và 35cm. Ở mặt trước khung kim loại bên phải kính chắn gió phía trước có vùng dấu vết trượt xước móp lõm sơn kim loại trên diện (15x3)cm, vị trí cao nhất cách đất 135cm. Ở góc trước bên phải ba đờ sốc trên vùng móp lõm có vùng dấu vết trượt sáng sơn, bám dính đất bẩn và chất màu đen trên diện (24x10)cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 35cm, bề mặt in hình các cạnh vân. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Cho xe nổ máy, kiểm tra hệ thống phanh, ga, đèn, còi, điều khiển hoạt động còn hiệu lực.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xe đạp điện, không biển số: Xe đạp điện, màu đen bạc, nhãn hiệu YAMAHA. Dấu vết trên phương tiện: Mặt lăn và thành lốp sau bên trái có vùng dấu vết trượt sạch bụi đất sáng cao su trên diện (20x4) cm, dấu vết cách lỗ chân van 30cm theo ngược chiều quay tiến. Phía sau chắn bùn bánh sau bị đẩy con lệch từ sau ra trước, trái sang phải, mặt ngoài bên trái chắn bùn này và thanh kim loại bắt cố định chắn bùn này với trục bánh sau (phía bên trái) có các dấu vết trượt sạch bụi đất mất sơn màu trắng bạc, chiều hướng từ sau ra trước, vị trí cao nhất và thấp nhất dấu vết cách mặt đất lần lượt là 51cm và 31cm; Giá kim loại gắn biển số phía bên trái bị đẩy cong gập từ sau ra trước; Góc phía sau bên trái giá đèo hàng phía sau, mặt sau ngoài bên trái thanh kim loại đứng phía bên trái giá đèo hàng có vùng dấu vết trượt xước sơn kim loại trên diện (30x6)cm, bề mặt dấu vết bám dính chất màu xanh dạng sơn, chiều hướng từ sau ra trước, vị trí cao nhất và thấp nhất cách đất lần lượt là 63cm và 37cm; Các dấu vết phía bên phải xe: Mặt bên phải giỏ để hàng phía trước, mặt trước tay phanh, núm tay phanh, đầu ngoài tay lái, đầu ngoài bàn đạp, ở ngoài giá để chân sau có các dấu vết trượt xước cong vênh nhựa, kim loại, cao su bề mặt bám dính bụi đá đường màu trắng; Không kiểm tra được hệ thống đèn, còi, phanh do xe hư hỏng sau tai nạn.

Tại Bản kết luận giám định số 255/KL-KTHS(DVCH) ngày 30 tháng 08 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N đối với dấu vết cơ học trong vụ tai nạn giao thông: Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn xe ô tô biển số 37A-388.91 và xe đạp điện di chuyển cùng chiều với nhau trên đường Quốc lộ 7A theo hướng từ huyện D đi thị trấn Đ. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô biển số 37A-388.91 với xe đạp điện: Trên hiện trường: Ở phần đường bên phải đường Q theo hướng từ huyện D đi thị trấn Đ; Trên mỗi phương tiện: Trên xe ô tô biển số 37A-388.91: Ở góc trước bên phải ba đờ xốc trước. Trên xe đạp điện: Ở bên trái phần đuôi xe.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 185/KLGĐTT-KTHS ngày 08/08/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận nguyên nhân chết đối với bà Nguyễn Thị L các kết quả chính: Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát, mài miết, mất lớp thượng bì da, rách da, sưng phù nề, bầm tụ máu; Xương hộp sọ bị vỡ, máu trong hộp sọ chảy ra ngoài qua đường vỡ xương và vết thương. Kết luận: Vỡ xương hộp sọ, xuất huyết não do chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với cháu Lê Tuệ N số: 474/KLTTCT-TTPY ngày 17/08/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh N, kết luận, các kết quả chính: Vỡ xương chẩm; Hai sẹo vết thương phần mềm 1/3 trên trước cẳng chân bên phải và một vết xây xát da thắt lưng bên trái, không ảnh hưởng đến chức năng; Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Tuệ N tại thời điểm giám định là 14%. (mười bốn phần trăm).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 2390/KL-HĐĐG ngày 17/08/2023 của Ủy ban nhân dân huyện Đ: Đối với xe ô tô con, hiệu Hyundai, biển số 37A-388.91; Gò, hàn, sơn ba đờ sốc phía trước bên phải, có mức giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); S sửa cánh cửa trước bên phải, có mức giá 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng); S cửa khung kim loại bên phải kính chắn gió phía trước, có mức giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng); 01 (một) đèn xi nhan phía trước bên phải thay mới, có mức giá 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Đối với xe đạp điện hiệu YAMAHA, không biển số: Chỉnh sửa các vị trí bị móp méo, cong vênh, có mức giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ gồm: 01 (một) xe ô tô hiệu Hyundai, màu xanh, biển kiểm soát 37A-388.91, số máy G4CSV221045, số khung 27GPVU342712; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 055273, mang tên Nguyễn Thị Ngọc T3 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) Giấy phép lái xe, hạng B2, số [...], mang tên Phạm Thị T; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 4749699 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số BBOTO22-0020347 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) xe đạp điện hiệu Yamaha, màu đen bạc, không có biển số; 01 (một) USB chứa đoạn video có nội dung vụ tai nạn giao thông được niêm phong trong 01 bì thư, kích thước (10,5x18)cm.

Bản Cáo trạng số 110/CT-VKS-ĐL ngày 03/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Phạm Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Xử phạt bị cáo Phạm Thị T từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tuyên xử: Trả lại cho bị cáo Phạm Thị T 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị T, số giấy phép 790118279174 do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 07/09/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại, đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên không đề HĐXX xem xét.

Về án phí: Bị cáo Phạm Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời khai của đại diện bị hại (bị hại bà Nguyễn Thị L1), đại diện của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (cháu Lê Tuệ N1) là chị Nguyễn Thị Thanh T2: Tại phiên tòa đại diện bị hại là chị Nguyễn Thị Thanh T2 vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án trình bày: Bị hại bà Nguyễn Thị L1 là mẹ đẻ của chị T2, ngày 28/7/2023, tại xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An bà Nguyễn Thị L1 bị xe ô tô do bị cáo Phạm Thị T điều khiển gây tai nạn làm bà L1 tử vong trên đường đi cấp cứu và con gái chị T là cháu Lê Tuệ N bị thương tích với tỷ lệ là 14%.. Quá trình giải quyết vụ án bị cáo T đã đến gặp gỡ gia đình xin lỗi và bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình với tổng số tiền là 260.000.000 đồng nên gia đình chị T không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự; Về trách nhiệm hình sự gia đình chị T đề

nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với các đồ vật bị thu giữ trong quá trình điều tra gia đình đã nhận lại đầy đủ nên không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng truy tố là đúng nên không tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để trở thành công dân có ích cho xã hội và làm tròn bổn phận tại gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng:

Hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và Cơ quan tiến hành tố tụng gồm: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo va người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2]. Về việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến:

Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ. Đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự. Xét thấy việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên HĐXX tiếp tục xét xử vụ án là đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Xét hành vi của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 28/7/2023, Phạm Thị T có giấy phép lái xe theo quy định điểu khiển xe ô tô con hiệu Hyundai, màu xanh, biển kiểm soát 37A-388.91 đi từ hướng huyện D lên thị trấn Đ; khi đi đến Km 28+300, đường Q thuộc địa phận xóm H, xã H, huyện Đ, tỉnh Nghệ An do thiếu chú ý quan sát phía trước, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước xe của mình (Vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ) dẫn đến ba đờ sốc trước ở góc trước bên phải của xe ô tô hiệu Hyundai BKS 37A-388.91 do T điều khiển đã đâm vào phần đuôi xe phía bên trái của xe đạp điện, không có biển số đi cùng chiều chạy liền trước do bà Nguyễn Thị L chở theo cháu gái Lê Tuệ N. Hậu quả, bà Nguyễn Thị L chết, cháu Lê Tuệ N bị tổn thương cơ thể là 14% (mười bốn phần trăm), xe ô tô và xe đạp điện hư hỏng nhẹ. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất hành vi của bị cáo.

Tội phạm mà bị cáo thực hiện thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, tai nạn giao thông là vấn nạn nhức nhối của xã hội, Nhà nước đã có nhiều biện pháp tuyên truyền, giáo dục qua nhiều năm, bằng nhiều hình thức, nhưng vẫn còn một bộ phận người dân có ý thức chấp hành pháp luật về giao thông đường bộ rất kém như bị cáo. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[2.3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện bị hại; đại diện bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố đẻ là ông Phạm Thành Đ được chủ tịch nước tặng “Huân chương kháng chiến hạng nhỉ”, có giấy chứng nhận thương binh loại A, hạng 4/4; có mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 được Chủ tịch UBND tỉnh N tặng Bằng khen. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định và có nhân thân tốt nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội phạm này bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe. Nhưng xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, bị cáo là lao động tự do trong đó nghề lái xe vận chuyển hàng hóa là một trong những công việc nghề nghiệp để bị cáo có thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình nên HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ có thu giữ: 01 (một) xe ô tô hiệu Hyundai, màu xanh, biển kiểm soát 37A-388.91, số máy G4CSV221045, số khung 27GPVU342712; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 055273, mang tên Nguyễn Thị Ngọc T3 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) Giấy phép lái xe, hạng B2, số [...], mang tên Phạm Thị T; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 4749699 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số BBOTO22-0020347 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) xe đạp điện hiệu Yamaha, màu đen bạc, không có biển số; 01 (một) USB chứa đoạn video có nội dung vụ tai nạn giao thông được niêm phong trong 01 bì thư, kích thước (10,5x18)cm.

Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển số 37A-388.91 do bị cáo Phạm Thị T mua lại của chị Nguyễn Thị Ngọc T3, việc mua bán hợp pháp nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành trả lại 01 (một) xe ô tô hiệu Hyundai, màu xanh, biển kiểm soát 37A-388.91, số máy G4CSV221045, số khung 27GPVU342712; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, số 055273, mang tên Nguyễn Thị Ngọc T3 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định số DA 4749699 của xe ô tô biển số 37A-388.91; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự số BBOTO22-0020347 của xe ô tô biển số 37A-388.91 cho chủ sở hữu bị cáo Phạm Thị T; trả lại 01 (một) xe đạp điện hiệu Yamaha, màu đen bạc, không có biển số cho đại diện hợp pháp của bị hại là Nguyễn Thị Thanh T2 (con đẻ của bà Nguyễn Thị L). Đối với 01 (một) USB chứa đoạn video có nội dung vụ tai nạn giao thông được niêm phong trong 01 bì thư, kích thước (10,5x18)cm là vật chứng cần thiết cho việc giải quyết vụ án nên cần phải lưu giữ tại hồ sơ vụ án; Đối với 01 (một) giấy phép lái xe số [...], mang tên Phạm Thị T cần trả lại cho bị cáo T.

[5] Về án phí: Bị cáo Phạm Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An về việc giải quyết toàn diện vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 16/11/2023).

Giao bị cáo Phạm Thị T cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 3 Điều 92; Điều 68 Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS. Tuyên xử: Trả lại cho bị cáo Phạm Thị T 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Phạm Thị T, số giấy phép: số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh N cấp ngày 09/9/2015.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2017/UBTVQH14 buộc bị cáo Phạm Thị T chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - Công an huyện Đô Lương;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Đô Lương;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diên Kim, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Duy Phi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 101/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Thị T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger