|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/HS-ST
Ngày: 16/5/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lưu Triều
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Toàn
- Bà Đặng Thị Ngọc Diệu
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 74/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 89/TB-TA ngày 23 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh N; Giới tính: Nam, Sinh ngày 01/01/1981 tại tỉnh Bình Thuận, Nơi ĐKNKTT: khu phố B, phường Đ, thành phố P. Chỗ ở hiện nay: khu phố G, phường Đ, thành phố P, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không, Trình độ học vấn: 4/12. Nghề nghiệp: chạy xe ôm, C: Lê Văn Ú, sinh năm 1948 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1952, Anh chị em ruột: có 06 người, bị can là con nhỏ nhất trong gia đình, V, con: chưa có, Tiền án, tiền sự: không, Nhân thân: Ngày 20/9/1999, TAND thành phố Phan Thiết xử phạt 07 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” tại bản án số 91/STHS, chấp hành xong hình phạt ngày 01/02/2000. Bị bắt vào ngày 22/4/2024 theo lệnh truy nã.
Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Anh Trần Duy Q - sinh năm 1976
Trú tại: thôn P, xã H, huyện H
Có mặt tại phiên tòa
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N1 – sinh năm 1971
Địa chỉ: Khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ ngày 02/9/2023, Trần Duy Q cùng với Huỳnh Văn T, Nguyễn Đình T1 đang ngồi nhậu tại quán cà phê “chị D” thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P. Lúc này, Q thấy Nguyễn Thanh N, làm nghề chạy xe ôm đang chờ chở khách nên Q kêu Nam đến, rồi đưa N 100.000 đồng nhờ N mua 04 hộp cơm, N đồng ý.
Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày, N mang 04 hộp cơm về đưa cho Q, Q đưa N 20.000 đồng tiền công thì N chửi thề nói: “mày nghĩ sao bắt tao đi lòng vòng mà đưa tao hai chục”, thấy N nhỏ tuổi hơn Q mà chửi vậy thì giữa Q và N xảy ra cãi vã, Q dùng tay hất nón của N đang đội làm rơi xuống đất. Bực tức, N cúi người xuống để nhặt nón thì thấy trong thau có đựng nhiều ly thủy tinh, N cầm 02 cái ly thủy tinh trên 02 tay rồi dùng tay phải ném 01 cái vào vùng đầu của Q tạo vết thương vùng thái dương trái và vùng trán, N chuyển ly thủy tinh từ tay trái sang tay phải và tiếp tục ném vào đầu Q tạo vết thương trên đầu thì được mọi người gần đó can ngăn và đưa Q đến Bệnh viện Đ để khâu vết thương.
Ngày 02/9/2023, Trần Duy Q có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu được giám định thương tích.
Vật chứng của vụ án:
21 mảnh vỡ của ly thủy tinh, có kích thước khác nhau.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 20 ngày 15/11/2023 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh B kết luận thương tích của Trần Duy Q như sau:
- Các kết quả chính:
Vết thương phần mềm vùng trán đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (1 x 0,3)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%.
Vết thương phần mềm vùng thái dương trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (1,7 x 0,7)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
Vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước (2,2 x 0,7)cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.
- Kết luận:
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trần Duy Q tại thời điểm giám định là 7%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Các kết luận khác:
- Các vết thương do vật tày gây ra.
- Vết thương vùng trán có chiều hướng lực tác động từ trước ra sau; các vết thương vùng thái dương trái, thái dương đỉnh trái có chiều hướng lực tác động từ trái sang phải; với lực tác động nhẹ.
- Hiện tại không xác định cố tật”.
Xử lý vật chứng:
21 mảnh vỡ của ly thủy tinh và số tiền 1.000.000 đồng, Viện kiểm sát thành phố P đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản, chờ xử lý.
Về dân sự:
Trần Duy Q yêu cầu Nguyễn Thanh N bồi thường số tiền 13.600.000 đồng, gồm viện phí, tiền thuốc 3.600.000 đồng; tiền công lao động, tiền tổn thất tinh thần 10.000.000 đồng. N đã bồi thường số tiền 1.000.000 đồng nhưng Q không nhận.
Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS ngày 18/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thanh N từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
Về bồi thường dân sự: Sau khi gây thương tích, quá trình điều tra anh Q yêu cầu bị cáo N phải bồi thường khoản tiền điều trị vết thương, tiền công lao động và tổn thất về tinh thần cho anh Q là 13.600.000 đồng, N đã bồi thường 1.000.000 đồng nhưng anh Q không nhận, nên buộc bị cáo bồi thường cho anh Q 12.600.000 đồng và tiếp tục tạm giữ của N 1.000.000 đồng, do bị cáo tự nguyện nộp để đảm bảo việc thi hành án.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: Tịch thu tiêu hủy 21 mảnh vỡ của ly thủy tinh do không còn giá trị sử dụng.
Tại phiên toà anh Trần Duy Q xác định vết thương trên cơ thể là do bị cáo N gây thương tích nên yêu cầu bồi thường chi phí điều trị và chi phí khác với tổng số tiền 13.600.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Ngọc c quán nước giải khát “Chị D” không yêu cầu bị cáo bồi thường 02 ly thủy tinh đã vỡ.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng không oan sai, bị cáo không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt và đồng ý bồi thường cho anh Q 13.600.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều khai nhận: Vào khoảng 13 giờ ngày 02/9/2023, tại quán C thuộc khu phố F, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Nguyễn Thanh N bực tức vì Trần Duy Q trả không đúng tiền công xe ôm và có hành vi hất nón của N nên N đã có hành vi cầm 02 ly thủy tinh ném vào đầu của Q gây thương tích 7%.
Theo quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a. Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người”.
Đối chiếu hành vi của các bị cáo với quy định của Bộ luật hình sự đã có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Thanh N đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi phạm tội Tính mạng, sức khỏe của con người là quan trọng, có sức khỏe con người mới tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần phục vụ cho cuộc sống và phát triển xã hội nên pháp luật xem đây là quyền nhân thân bất khả xâm phạm, mọi hành vi xâm phạm đều bị nghiêm trị.
Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người đã thành niên khỏe mạnh, nhận thức và điều khiển được hành vi của bản thân. Mặc dù, giữa bị cáo và bị hại không quen biết, nhưng khi anh Q trả không đúng tiền công xe ôm và có hành vi hất nón thì bị cáo đã dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn, sử dụng 02 ly thủy tinh được xem là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại thương tích 7%, điều này thể hiện tính xem thường pháp luật, trực tiếp xâm hại đến quyền nhân thân, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến đời sống bình thường của xã hội. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người dân biết tôn trọng pháp luật, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Nguyễn Thanh N đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng tự nguyện khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa anh Trần Duy Q yêu cầu bồi thường chi phí điều trị vết thương, tiền công lao động và tổn thất về tinh thần với tổng số tiền 13.600.000 đồng nên buộc bị cáo N phải bồi thường cho anh Q 13.600.000 đồng và tiếp tục tạm giữ của Q 1.000.000 đồng, để đảm bảo việc thi hành án.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 21 mảnh vỡ của ly thủy tinh do không còn giá trị sử dụng.
[7] Bị cáo phải nộp tiền án phí và những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố:
- Bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Cố ý gây thương tích”
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thanh N 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/4/2024.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Áp dụng: Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự
Buộc Nguyễn Thanh N phải bồi thường khoản tiền điều trị vết thương, tiền công lao động và tổn thất về tinh thần cho anh Trần Duy Q 13.600.000 đồng.
Tiếp tục tạm giữ của Nguyễn Thanh N 1.000.000 đồng, do bị cáo tự nguyện nộp để đảm bảo việc thi hành án.
(Theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số [...] ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sựTịch thu tiêu hủy 21 mảnh vỡ của ly thủy tinh, có kích thước khác nhau do không còn giá trị sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 81 ngày 25/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng và 680.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (16/5/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lưu Triều |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự: cố ý gây thương tích
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
