|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2023/HS - ST
Ngày: 15 - 11 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Vũ Văn Lợi |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Tô Thị Hương |
| Bà Trần Thị Lan |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2023/TLST – HS, ngày 31 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST – HS, ngày 03/11/2023 đối với,
Bị cáo: Trần Bá T - sinh ngày 26/9/1996, tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Q và bà Đặng Thị T1; Có vợ là Vũ Thị Thảo V và 01 con sinh năm 2021; Tiền án, Tiền sự: không; Nhân thân: từ tháng 3/2015 đến tháng 7/2016 tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Cụ Trần Thị N - sinh năm 1939 (đã chết)
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- - Ông Trần Văn T2 - sinh năm 1962
- - Ông Trần Văn Đ - sinh năm 1969
- - Bà Trần Thị N1 - sinh năm 1971
- Đều địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- - Bà Trần Thị S - sinh năm 1964
- Địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- - Bà Trần Thị L - sinh năm 1977
Địa chỉ: xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Đại diện theo uỷ quyền của bà L, bà S, bà N1, ông Đ: Ông Trần Văn T2 - sinh năm 1962, địa chỉ: thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.(Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Công ty TNHH V1
Địa chỉ: Lô B, đường L, tổ B, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
Đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Thanh H - Giám đốc. (Vắng mặt)
Người làm chứng: Ông Trần Văn Đ - Sinh năm 1969 (Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 4 giờ 50 phút ngày 05/8/2023, bị cáo Trần Bá T là lái xe của Công ty TNHH V1, một mình điều khiển xe ô tô khách BKS 17B - 020.08 (có giấy phép lái xe theo quy định) đi từ nhà tại xã Đ theo hướng Đ - Đ - Tây Ninh để đón khách tại huyện T. Tại thời điểm này, trời tối, đường vắng người, tầm nhìn hạn chế nhưng T điều khiển xe với tốc độ khoảng 90 km/h. Khi đi đến đoạn đường Đ thuộc địa phận thôn M, xã Đ, huyện T bị cáo phát hiện phía trước cách đầu xe khoảng 50m có bà Trần Thị N đang đi bộ từ bên trái sang bên phải đường theo chiều đi của xe ô tô, trên tay cầm nhiều mảnh bìa cát tông. Bị cáo nháy đèn xe nhưng bà N không có phản ứng gì mà vẫn tiếp tục sang đường nên bị cáo đã đạp phanh, đánh lái sang phải. Nhưng do xe ô tô đang di chuyển với tốc độ cao, đầu xe bên trái ô tô đã đâm vào phần bên phải người bà N làm bà N ngã ra giữa đường, chết tại chỗ do chấn thương sọ não và đa chấn thương. Xe ô tô bị cáo điều khiển đâm vào một số chậu cây của nhà dân ở lề đường bên phải rồi dừng lại.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1191/KLGĐTT - KTHS ngày 04 tháng 9 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Nạn nhân Trần Thị N bị đa chấn thương vùng đầu, mặt và toàn thân làm vỡ xương sọ vùng trán phải, chảy máu não; gãy xương đòn phải; gãy toàn bộ xương sườn bên phải, gãy 03 xương sườn bên trái, gẫy xương cánh tay phải và hai xương cẳng tay phải. Nạn nhân chết do chấn thương sọ não và đa chấn thương.
Bị cáo Trần Bá T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên tại phiên toà. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 105/CT-VKSTH ngày 31 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Trần Bá T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Bá T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo Trần Bá T từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm đến 02 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Bị cáo không tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật vì vậy đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất và được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện sửa chữa sai lầm gây ra cũng như chăm sóc gia đình, nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, người tham gia tố tụng không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng. Bị cáo khai: Khoảng 4 giờ 50 phút ngày 05/8/2023, tại đoạn đường Đ, thuộc thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Do bị cáo điều khiển xe ô tô khách BKS 17B – 020.08 tham gia giao thông không đảm bảo tốc độ phù hợp với điều kiện thời tiết, không giảm tốc độ đến mức an toàn để nhường đường cho người đi bộ sang đường dẫn đến đầu xe ô tô bên trái đâm vào bà Trần Thị N đang đi bộ từ bên trái sang bên phải đường theo chiều đi của xe ô tô. Hậu quả bà N chết tại chỗ do chấn thương sọ não và đa chấn thương. Hành vi của bị cáo đã phạm vào khoản 3 Điều 4, khoản 6 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; Khoản 23 Điều 8; khoản 4 Điều 11 Luật giao thông đường bộ.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Lời khai của người làm chứng Trần Văn Đ; Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 05/8/ 2023; Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình lập ngày 07/8/2023; Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 05/8/2023; Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1191/KLGĐTT - KTHS ngày 04/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông làm thiệt hại đến tính mạng của người tham gia giao thông, gây tâm lý hoang mang, ảnh hưởng đến người dân khi tham gia giao thông. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm, năng lực hành vi hình sự. Khi tham gia giao thông đã không tuân thủ quy định của pháp luật về an toàn giao thông dẫn đến làm chết người, hành vi của bị cáo là vô ý phạm tội.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
- Làm chết người;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
- ...
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo và gia đình đã bồi thường, khắc phục thiệt hại về trách nhiệm dân sự cho đại diện hợp pháp của bị hại; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; người bị hại có một phần lỗi; bản thân bị cáo tham gia nghĩa vụ quân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt.
[6] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, có khả năng tự cải tạo. Việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách với bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường xong. Đại diện bị hại không có yêu cầu gì về việc bồi thường trách nhiệm dân sự nên không đặt ra giải quyết.
[8] Xử lý vật chứng: Đối với 01 quần cạp chun màu đen; 01 áo ngắn tay màu đen của bị hại Trần Thị N và 01 xe ô tô khách 16 chỗ màu đen BKS 17B – 020.08 của Công ty TNHH V1. Đây là các tài sản hợp pháp của bị hại và Công ty V2 Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Thái Bình đã trả lại cho đại diện bị hại và đại diện hợp pháp của Công ty TNHH V1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Bá T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điều 38; Điều 50; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Bá T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 15/11/2023. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Về án phí: áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Trần Bá T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn T2, ông Bùi Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |
Bản án số 101/2023/HS - ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 101/2023/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Bá Th phạm tội
