|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày: 14-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa:
Ông Phan Quang Đại Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/TLHS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng P, sinh ngày 09/01/1999 tại Quảng Nam. Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Thôn L, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Công S và bà Nguyễn Thị N; Bản thân chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 04/6/2024 đến ngày 05/6/2024, sau đó được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/6/2024, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Xuân S1 - Sinh năm: 1989. Nơi cư trú: Số A đường L, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
Bà Trương Thị Quỳnh L - Sinh năm: 1988. Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 02/6/2024, Nguyễn Hoàng P được một người bạn tên N1 (không rõ nhân thân lai lịch) cho một gói ma túy đá để sử dụng. P mang ma túy về nhà sử dụng một ít, còn một ít ma túy trong gói nilon thì P lấy tờ tiền mệnh giá 2000 đồng gấp bọc bên ngoài rồi bỏ tất cả vào trong ví da màu đen của P để sau đó sẽ sử dụng tiếp. Khoảng 17 giờ ngày 04/6/2024, P đi xe buýt ra thành phố Đà Nẵng để làm thủ tục nghỉ việc với Công ty P1 (P mang theo ví da màu đen có gói ma túy bên trong). Khi đến nơi P có liên lạc với bạn tên là Bùi Xuân S1 hẹn uống cà phê nhưng do S1 bận nên không đi. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S1 điều khiển xe mô tô hiệu Click, màu đỏ, biển kiểm soát: 92H4-7974 chở P ra Bến xe Đ để đón xe về Quảng Nam. Khi S1 chở P đến đoạn đường 27 mét, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng thì lực lượng tuần tra của Công an quận C yêu cầu dừng xe, tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an quận C phát hiện và thu giữ gói ma túy trong ví da màu đen của Nguyễn Hoàng P. P khai nhận số ma túy này P cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.
Tiến hành thử test ma túy đối với Nguyễn Hoàng P và Bùi Xuân S1 đều cho kết quả dương tính với ma túy loại Methamphetamine. Nguyễn Hoàng P khai sử dụng ma túy một mình tại nhà vào ngày 02/6/2024, còn Bùi Xuân S1 khai sử dụng ma túy một mình vào ngày 02/6/2024 tại nhà của S1.
Tang vật tạm giữ gồm:
- 01 gói nilon kích thước khoảng (1x1,8) cm chứa tinh thể rắn màu trắng gấp trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, được niêm phong trong bì thư ký hiệu A.
- 01 ví da màu đen, 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Hoàng P.
- 01 xe mô tô hiệu Click, màu đỏ, BKS 92H4-7974.
- 01 điện thoại di động hiệu S2, màu bạc, sim 0932553926 và 0932419115.
Tại Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, xác định: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine khối lượng mẫu là: 0,129 gam;
Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 93/CT-VKSCL ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo P mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ mẫu giám định ma túy và túi ni lon hoàn trả theo Kết luận giám định số 451/KL- KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
- Đối với một ví da màu đen là của Nguyễn Hoàng P, không liên quan vụ án, không có giá trị sử dụng, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
- Đối với giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Hoàng P, không liên quan đến vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- Đối với điện thoại di động hiệu S2, màu bạc, sim 0932553926 và 0932419115: Đây là điện thoại của Nguyễn Hoàng P, không liên quan đến vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- Đối xe mô tô hiệu Click, màu đỏ, BKS 92H4-7974 là tài sản của bà Trương Thị Quỳnh L. Vào tháng 5/2024, bà L cho Bùi Xuân S1 mượn xe mô tô trên để đi làm và sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày. Ngày 04/6/2024, S1 điều khiển xe mô tô trên chở Nguyễn Hoàng P đi thì S1 hoàn toàn không biết việc P cất giấu ma túy trong người. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại xe mô tô trên cho bà L.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Hoàng P và Bùi Xuân S1, Công an quận C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với mỗi người bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng.
Đối với Bùi Xuân S1 hoàn toàn không biết việc Nguyễn Hoàng P cất giấu ma túy trong người. Do đó, hành vi của S1 không cấu thành tội phạm.
Đối với người tặng ma túy cho Nguyễn Hoàng P thì P khai là một người bạn quen biết ngoài xã hội, P chỉ biết tên là N1. P không rõ họ tên đầy đủ và nơi ở của N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã áp dụng các biện pháp điều tra cần thiết, tuy nhiên đến nay chưa xác định được nhân thân lai lịch của người tên N1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo P đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng là trong thời gian bị tạm giam bị cáo nhận thấy hành vi sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 22 giờ ngày 04/6/2024 tại địa bàn tổ D phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Hoàng P đã bị lực lượng công an bắt quả tang về việc tàng trữ, cất giữ gói nilon kích thước khoảng (1x1,8) cm chứa tinh thể rắn màu trắng gấp trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, được niêm phong trong bì thư ký hiệu A, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại Kết luận giám định số 451/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, xác định: Tinh thể màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,129 g.
Do đó, hành vi của bị cáo P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo P về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người và sự phát triển của nòi giống dân tộc, tiêu tốn về kinh tế. Đồng thời, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội khác như HIV...; nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm phục vụ nhu cầu cá nhân của bản thân. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.
[4] Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đề nghị áp dụng cho bị cáo P là có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như đã phân tích nêu trên, nên được HĐXX chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ mẫu giám định ma túy và túi ni lon hoàn trả theo Kết luận giám định số 451/KL- KTHS ngày 12/6/2024, là vật chứng vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với một ví da màu đen không có giá trị sử dụng, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Hoàng P, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo.
- Đối với điện thoại di động hiệu S2, màu bạc, sim 0932553926 và 0932419115 là tài sản của Nguyễn Hoàng P, không liên quan đến vụ án, nên trả lại cho bị cáo P, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối xe mô tô hiệu Click, màu đỏ, BKS 92H4-7974 là tài sản của bà Trương Thị Quỳnh L. Bà L cho Bùi Xuân S1 mượn xe mô tô sử dụng và S1 không biết việc phạm tội của Nguyễn Hoàng P. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại xe mô tô trên cho bà L là có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.
[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Hoàng P và ông Bùi Xuân S1 đã vi phạm khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2021 quy định về “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình”, do đó Công an quận C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền với số tiền 1.500.000 đồng là có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.
[7] Đối với Bùi Xuân S1 hoàn toàn không biết việc Nguyễn Hoàng P cất giấu ma túy trong người, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C không đề cập xử lý có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.
Đối với người tặng ma túy cho Nguyễn Hoàng P, do không xác định được nhân thân lai lịch của người tên N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 (Một) năm tù, nhưng được trừ vào thời gian bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 04/6/2024 đến 05/6/2024) là 02 ngày, còn lại bị cáo phải chấp hành 11 (Mười một) tháng 28 (hai mươi tám) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy:
- Toàn bộ mẫu giám định ma túy và túi ni lon hoàn trả theo Kết luận giám định số 451/KL- KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ.
- Một ví da màu đen.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng P giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Hoàng P.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng P 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu bạc, sim 0932553926 và 0932419115, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số 71/QĐ-VKSCL ngày 02/10/2024 và Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2024).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - VKSND quận Cẩm Lệ;
- - VKSND tp. Đà Nẵng;
- - Cơ quan CSĐT quận Cẩm Lệ;
- - Cơ quan THAHS CA quận Cẩm Lệ;
- - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
- - Sở tư pháp tp. Đà Nẵng;
- - Trại tạm giam CA tp
- . Đà Nẵng;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
