|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 14-08-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Ngà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Chính
Ông Lã Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 103/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn N, sinh ngày 08 tháng 12 năm 1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: tổ H, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng;
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn T và bà Phạm Thị H, đã chết; Có vợ là Nguyễn Thị Mỹ L và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án tiền sự: không; nhân thân: có 03 tiền án đã xoá án tích:
- Bản án số 81/2008/HS-ST ngày 21/11/2008 của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 10 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Bản án số 50/2011/HS-ST ngày 23/8/2011 của Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 04 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
- Bản án số 22/2014/HS-ST ngày 21/3/2014, Toà án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử phạt 24 tháng tù về tội Đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/12/2023, chuyển tạm giam ngày 15/12/2024; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trần Thành T1, sinh năm 1984, nơi ĐKHKTT: Tổ 3 phường V, quận K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Tổ T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 07/12/2023, Hoàng Văn N nhận được cuộc gọi điện thoại của bạn là Trần Thành T1 (sinh năm 1984; cư trú: tổ T, phường T, quận K, Hải Phòng) rủ đến quán K1 ở số I Hòa Bình, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng để hát karaoke, N đồng ý. Khoảng 15 giờ cùng ngày, T1 thuê phòng 501 tại quán K1 và gọi nhân viên nữ lên phòng hát để bấm bài và rót bia. Một lúc sau, Nguyễn Bảo N1 (sinh năm 2005; cư trú: số C P, phường T, quận K, TP Hải Phòng) và Cụt Thị S (sinh năm 1998; cư trú: số G Hòa Bình, phường T, quận K, Hải Phòng) là nhân viên của quán lên phòng 501. Khoảng 16 giờ cùng ngày, Hoàng Văn N đi một mình mang theo ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân và lên phòng 501 hát thì thấy T1, N1 và S đang hát karaoke với nhau. Sau đó, N tự lấy số ma túy của N mang theo; gồm 01 túi nilon chứa nửa gam Ketamine, 01 túi nilon chứa 03 viên ma túy thuốc lắc màu hồng (MDMA) và nửa gói bột nước vui để trên mặt bàn. N cầm túi nilon chứa 03 viên ma túy thuốc lắc mời T1 thì T1 lấy 01 viên ma túy thuốc lắc cho vào miệng sử dụng. N lại lấy bột nước vui đổ vào chai nước ngọt C2 lắc đều, N rót một ít ra cốc và sử dụng một mình. Sau đó, N để gói bột nước vui và 01 túi nilon chứa 02 viên thuốc lắc màu hồng trên vai ghế sofa để sử dụng tiếp. Tiếp đó N đổ Ketamine ra tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng dùng bật lửa đánh xong thì N đổ một nửa K đã đánh ra tờ tiền 5.000 đồng khác gấp lại và để ở mép bàn. N lấy tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng cuộn lại, bên ngoài được bọc bằng hai vỏ đầu đài (đầu lọc) thuốc lá thành ống hút và một mình N hút hít Ketamine trên tờ tiền 5.000 đồng. Thoại cũng tự rót một ít nước vui ra cốc để uống rồi dùng ống hút làm bằng tờ 10.000 đồng hít Ketamine trên tờ 5.000 đồng N để lại tại mép bàn. Sau khi sử dụng ma tuý, Nam mở nhạc DJ, tất cả cùng nhảy. Trong quá trình nhảy, N có mời S và N1 uống nước vui nhưng cả hai không uống. Một lúc sau, Nguyễn Thị Thu H1 (sinh năm 1995; cư trú: số B T, phường P, quận K, Hải Phòng) là nhân viên của quán đi lên phòng 501 và cùng nhảy hát với cả nhóm. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày thì tổ công tác Công an quận K đến kiểm tra hành chính, N đã lấy gói bột nước vui trên vai ghế sofa vứt xuống đất. Lực lượng Công an đã phát hiện thu giữ tại phòng 501 của quán K1: 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000đ được cuộn thành ống bên ngoài được bọc bằng hai vỏ đầu đài thuốc lá có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy (Mẫu M), 01 tờ tiền mệnh giá 5.000₫ bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (Mẫu M2) và một tờ tiền mệnh giá 5.000₫ bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (Mẫu M3) tại mép phía dưới bàn số 01 bên trái tính từ cửa vào; 01 túi ni-lon màu xanh kích thước 9x6cm bên ngoài có chữ yao yao và logo hình trông giống với nhãn hiệu mercedes đã được bóc mép bên trong có chứa chất bột màu vàng nghi là ma túy dưới nền nhà tại vị trí sát ghế sofa (Mẫu M); 01 cốc nhựa trong suốt có chứa dung dịch màu vàng nghi là ma túy tại bàn số 02 tính từ cửa vào (Mẫu M); 01 túi zip trong suốt kích thước 8,5x5cm có mép khóa nhựa viền đỏ bên trong có 02 viên nén màu hồng nghi là ma túy trên vai ghế sofa (Mẫu M6); 01 chai nhựa có lắp ren đậy nắp màu vàng bên trong có chứa dung dịch màu vàng có lắng cặn nghi là ma túy trên mặt bàn số 01 (Mẫu M).
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K tiến hành test thử chất ma tuý đối với Hoàng Văn N, Trần Thành T1, Nguyễn Thị Thu H1, Nguyễn Bảo N1 và Cụt Thị S. Kết quả, Hoàng Văn N, Trần Thành T1, Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Bảo N1 dương tính với MDMA, Methamphetamine và Ketamine; Cụt Thị S dương tính với MDMA.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Văn N tại tổ H, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận K không thu giữ được đồ vật, tài liệu liên quan.
Kết luận giám định số 1006/KL-KTHS ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận: Chất bột bám dính trong tờ tiền mệnh giá 10.000₫ của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính trên; Chất bột màu trắng của mẫu M2 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,25 gam, loại: Ketamine; Chất bột màu trắng của mẫu M3 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,10 gam, loại: Ketamine; Chất bột màu vàng của mẫu giám định M4 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 1,82 gam, loại: MDMA và Methamphetamine; Chất lỏng màu vàng của mẫu M5 gửi giám định có thể tích 145ml, tìm thấy dấu vết chất ma tuý. Methaphetamine và MDMA. Không đủ cơ sở định lượng xác định khối lượng chất ma tuý; Các viên nén màu hồng của mẫu M6 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng: 0,87 gam, loại: MDMA; Chất lỏng màu vàng của mẫu M7 gửi giám định có thể tích 90 ml, tìm thấy dấu vết ma tuý: MDMA và Methamphetamine. Không đủ cơ sở xác định khối lượng chất ma túy.
Kết luận giám định số 1877/KL-KTHS và số 1930/KL-KTHS ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Phòng K2 Công an thành phố H, kết luận: Phát hiện 01 dấu vết đường vân trên 01 túi nilon không màu viền mép túi màu đỏ, kích thước: 05cm x 8,5cm (Mẫu M), dấu vết đường vân phát hiện không đủ yếu tố giám định; Phát hiện 01 dấu vết đường vân trên 01 cốc nhựa hình trụ tròn không màu, đường kính: 07cm, cao 7,5cm (Mẫu M), dấu vết đường vân phát hiện được không đủ yếu tố giám định; Phát hiện 01 dấu vết đường vân trên 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (ký hiệu A1) Dấu vết đường vân phát hiện được không đủ yếu tố giám định; Không phát hiện thấy dấu vết đường vân trên 02 vỏ đầu đài thuốc lá là 02 mảnh giấy màu vàng có chữ “thanglong” (ký hiệu A2 và A3; Không phát hiện thấy dấu vết đường vân trên các mẫu vật còn lại (mẫu M2, M3, M4, M7).
Tại Công văn số 36 ngày 25/6/2024 của Phòng K2 Công an thành phố H cung cấp: Công tác xét nghiệm, giám định không thể xác định được thời gian đối tượng sử dụng chất ma túy từ khi nào. Qua thực tế công tác giám định, Phòng K2 Công an thành phố H có thể giám định, phát hiện chất ma túy tồn tại trong cơ thể người đã sử dụng từ 03 đến 06 ngày mà trước đó đối tượng đã sử dụng.
Quá trình điều tra, Hoàng Văn N khai nhận phù hợp với nội dung trên. Ngoài ra N khai, trước đó N mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon chứa nửa gam Ketamine, 01 túi nilon chứa 03 viên thuốc lắc (MDMA) và 01 nửa gói bột nước vui với giá 2.500.000 đồng tại khu vực đường T, quận L, thành phố Hải Phòng để sử dụng cho bản thân. Chiều ngày 07/12/2023, sau khi Trần Thành T1 rủ đi hát Karaoke thì N đã mang theo ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân đến hết thì mới về. N không bàn bạc với T1 về việc mang theo ma túy đến quán hát karaoke để sử dụng. Tại quán, N tự bỏ ma túy ra để sử dụng và mời T1 sử dụng 01 viên thuốc lắc. Ngoài ra, N không mời ai khác sử dụng ma túy trong phòng hát. Toàn bộ số túy bị thu giữ là của N chưa kịp sử dụng hết tại phòng hát 501 quán K1 thì bị cơ quan Công an phát hiện. 02 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bị thu giữ là của N.
Trần Thành T1 khai: Khi rủ N đến quán K1 để hát, T1 không biết việc N mang theo ma túy đến phòng hát để sử dụng. Thoại không góp tiền mua ma túy để sử dụng cùng N, chỉ đến khi N bỏ ma túy ra thì T1 mới biết. Khi N đưa cho T1 01 túi nilon có 03 viên thuốc lắc màu hồng, T1 đã lấy 01 viên để sử dụng, rồi T1 có dùng một ít Ketamine vì N mời nên T1 đã sử dụng. Trong phòng hát, T1 không biết có ai khác sử dụng ma túy nữa hay không.
Nguyễn Bảo N1 khai: N1 là nhân viên của quán phục vụ khách hát, uống bia, nghe nhạc. Lời khai ban đầu N1 khai tại phòng hát, N bỏ ma túy ra rồi mời N1 sử dụng nước vui và Ketamine. Sau đó N1 lại khai N rót nước vui ra cốc mời N1 và S uống, nhưng cả hai không uống. Trong phòng hát chỉ có N và T1 sử dụng ma túy. N1 dương tính với ma túy là do vài ngày trước N1 đi làm ở quán bar (không nhớ tên, địa chỉ) có người đã mời N1 sử dụng ma túy.
Cụt Thị S khai: Tại phòng hát, N có mời S và N1 uống nước vui nhưng cả hai không uống. Son dương tính với ma túy là do vài ngày trước S đi làm ở quán bar (không nhớ tên, địa chỉ) có người đã mời S sử dụng ma túy.
Nguyễn Thị Thu H1 khai: Khi H1 vào phòng thì không thấy ai sử dụng ma túy, chỉ đang nhảy, hát và nghe nhạc, uống bia. H1 không biết số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ là của ai. Huyền dương tính với ma túy là do vài ngày trước H1 đi làm ở quán bar (không nhớ tên, địa chỉ) khách mời H1 uống bia, nước ngọt có thể có ma túy trong đó.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành đối chất giữa Hoàng Văn N và Nguyễn Bảo N1. N và N1 đều khai nhận trong phòng hát chỉ có N mời T1 sử dụng ma tuý. N mời N1 và S sử dụng ma tuý nhưng N1 và S không sử dụng.
Tại bản Cáo trạng số 107/CT-VKSKA ngày 25 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An truy tố bị cáo Hoàng Văn N về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hoàng Văn N như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn N: 30 – 36 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt từ từ ngày 07/12/2023. Miễn phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu huỷ: 0,10 gam chất bột mẫu M2, 0,75 gam viên nén mẫu M6; 1,15gam chất bột mẫu M4 được niêm phong trong phong bì 1006/KL-KLHS; hai vỏ đầu đài thuốc lá; 01 túi nilon màu xanh rách mép bên ngoài có chữ “yao yao”, 01 túi nilon đựng dung dịch màu vàng; 01 cốc nhựa, 01 chai nhựa không màu có nắp màu xanh; 01 chai nhựa không màu có nắp màu vàng.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 02 tờ tiền 5.000₫.
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bị vỡ màn hình và phần ốp kính, máy không khởi động được.
- Trả lại cho anh Trần Thành T1: 01 điện thoại Nokia màu đen có IMEI 1: 353159117166634, IME2: 353159117666633 và 01 điện thoại Vivo V21 5G màu tím có số IMEI: 868163057858711, IMEI: 868163057858703.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp để sớm trở về với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Kiến An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và trong thời gian chuẩn bị xét xử, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Hồi 17 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, Hoàng Văn N có hành vi chuẩn bị ma tuý là Ketamine, M và MDMA, chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất đối với Trần Thành T1 tại phòng 501 quán K1 ở số I Hòa Bình, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng thị bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Bị cáo Hoàng Văn N có hành vi chuẩn bị ma tuý là Ketamine, M và MDMA, chuẩn bị công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất đối với 01 người là Trần Thành T1 nên bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Ma túy là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Các loại tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, gây lo lắng và bức xúc trong nhân dân. Do vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
- Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5] Về nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn N có 03 tiền án:
- Bản án số 81/2008/HS-ST ngày 21/11/2008, Toà án nhân dân quận Kiến An xử phạt 10 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người phạm tội khác mà có, đã thi hành xong hình phạt tù vào ngày 28/11/2008 và thi hành xong án phí vào ngày 21/11/2008.
- Bản án số 50/2011/HS-ST ngày 23/8/2011, Toà án nhân dân quận Kiến An xử phạt 04 tháng tù về tội Đánh bạc, bị cáo đã thi hành xong án phí hình sự vào ngày 19/11/2015, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 29/8/2011.
- Bản án số 22/2014/HS-ST ngày 21/3/2014, Toà án nhân dân quận Kiến An xử phạt 24 tháng tù về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/6/2015, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm và thi hành xong phần tiền phạt ngày 25/6/2014.
Căn cứ Điều 70, Điều 73 Bộ luật Hình sự, 3 tiền án trên bị cáo đã được xoá án tích nhưng vẫn coi là bị cáo có nhân thân xấu.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng khi xem xét, quyết định hình phạt đối với bị cáo.
- Về hình phạt:
[8] Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Hoàng Văn N và ở trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[9] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định trước khi bị bắt nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng:
[11] Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 0,10 gam chất bột mẫu M2, 0,75 gam viên nén mẫu M6; 1,15gam chất bột mẫu M4 được niêm phong trong phong bì 1006/KL-KLHS.
- 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ và hai vỏ đầu đài thuốc lá.
- 02 tờ tiền 5.000đ.
- 01 túi nilon màu xanh rách mép bên ngoài có chữ “yao yao”, 01 túi nilon đựng dung dịch màu vàng.
- 01 cốc nhựa, 01 chai nhựa không màu có nắp màu xanh.
- 01 chai nhựa không màu có nắp màu vàng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bị vỡ màn hình và phần ốp kính, máy không khởi động được.
- 01 điện thoại N3 màu đen có IMEI 1: 353159117166634, IME2: 353159117666633.
- 01 điện thoại Vivo V21 5G màu tím có số IMEI: 868163057858711, IMEI: 868163057858703.
HĐXX xét:
Đối với 0,10 gam chất bột mẫu M2, 0,75 gam viên nén mẫu M6; 1,15gam chất bột mẫu M4 được niêm phong trong phong bì 1006/KL-KLHS; hai vỏ đầu đài thuốc lá; 01 túi nilon màu xanh rách mép bên ngoài có chữ “yao yao”, 01 túi nilon đựng dung dịch màu vàng; 01 cốc nhựa, 01 chai nhựa không màu có nắp màu xanh; 01 chai nhựa không màu có nắp màu vàng là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 02 tờ tiền mệnh giá 5.000đ là tài sản của bị cáo N, bị cáo không có nhu cầu nhận lại nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động Iphone màu trắng là của bị cáo N, 01 điện thoại Nokia màu đen và 01 điện thoại Vivo V21 5G là của anh Trần Thành T1 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại bị cáo N và anh T1.
- Về án phí:
[11] Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Về các nội dung khác
Đối với Trần Thành T1, quá trình điều tra xác định T1 không bàn bạc, không góp tiền mua ma tuý và không biết, không liên quan đến việc N một mình cầm ma tuý của N đến phòng hát để sử dụng. Do vậy, chỉ xác định T1 là người thụ hưởng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý đối với T1 về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đồng thời, Công an quận K ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T1 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP là có căn cứ pháp luật.
Đối với Nguyễn Bảo N1, Cụt Thị S và Nguyễn Thị Thu H1 không nhớ địa điểm, thời gian sử dụng ma tuý nên không có căn cử để xử lý.
Đối với ông Phạm Hữu D là chủ quán và chị Phạm Thị Hồng N2 là quản lý karaoke N9. Quá trình điều tra, xác định ông D và bà N2 không biết việc Hoàng Văn N tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý. Công an quận K lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính đối với chủ cơ sở kinh doanh về quản lý hoạt động kinh doanh Karaoke để xảy ra việc sử dụng trái phép chất ma tuý trong khu vực mình quản lý quy định tại điểm a khoản 4 Điều 23 Nghị định 144/NĐ-CP.
Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Hoàng Văn N, hiện chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn N phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N: 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 7/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Hoàng Văn N.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 0,10 gam chất bột mẫu M2, 0,75 gam viên nén mẫu M6; 1,15gam chất bột mẫu M4 được niêm phong trong phong bì 1006/KL-KLHS; hai vỏ đầu đài thuốc lá; 01 túi nilon màu xanh rách mép bên ngoài có chữ “yao yao”, 01 túi nilon đựng dung dịch màu vàng; 01 cốc nhựa, 01 chai nhựa không màu có nắp màu xanh; 01 chai nhựa không màu có nắp màu vàng.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 tờ tiền mệnh giá 10.000đ, 02 tờ tiền 5.000₫.
- - Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bị vỡ màn hình và phần ốp kính, máy không khởi động được.
- - Trả lại cho anh Trần Thành T1: 01 điện thoại Nokia màu đen có IMEI 1: 353159117166634, IME2: 353159117666633 và 01 điện thoại Vivo V21 5G màu tím có số IMEI: 868163057858711, IMEI: 868163057858703.
(Vật chứng có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Kiến An, thành phố Hải Phòng).
-
Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Hoàng Văn N phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Hoàng Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Trần Thành T1 được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Ngà |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN KIẾN AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: có tội
