TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 14-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Đỗ Văn Minh
- Bà Mai Thị Duyên
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận HảiKiÕn An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 98/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Thành D, sinh ngày 27/01/1986, nơi sinh: Hải Phòng; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số D đường Đ, TDP Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc H (đã chết) và bà Mai Thị Q; có vợ là Vũ Thị Y và 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/02/2024 đến ngày 06/02/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
Bị hại:
- Anh Lê Hoài V, sinh năm 1989, nơi cư trú: Số H T, phường C, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Anh Đào Mạnh T, sinh năm 1984, nơi cư trú: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Vũ Thị Y; nơi cư trú: Số D đường Đ, TDP Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người làm chứng: Anh Phạm Trung T1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 25/9/2023, Phạm Thành D một mình điều khiển xe mô tô BKS: 15R1-014.55 đi trên đường L, khi đi đến khu vực vòng xuyến Siêu thị G thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng thì bị các anh Lê Hoài V và anh Đào Mạnh Tuấn (đều là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông số A, Phòng C Công an thành phố C) đang làm nhiệm vụ tại đó ra hiệu lệnh yêu cầu dừng xe và thông báo lỗi vượt đèn đỏ, đồng thời yêu cầu D xuất trình giấy tờ. Anh V và anh T giữ 01 giấy đăng ký xe mô tô BKS: 15R1-014.50 và 01 giấy phép lái xe mô tô mang tên Phạm Thành D. D yêu cầu hai anh lập biên bản vi phạm hành chính tại vị trí đã dừng xe, hai anh yêu cầu D đến bốt giao thông gần đó để tiến hành lập biên bản nhưng D không đồng ý. Hai anh sang bốt giao thông kiểm tra lại hình ảnh thì phát hiện người điều khiển xe mô tô vượt đèn đỏ không phải là D mà là người khác và người này đã rời đi. Anh V liền mang các giấy tờ trên đến vị trí đã dừng xe để trả lại cho D, nhưng D đã bỏ đi.
Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, anh V đã nhờ người quen của mình là anh Phạm Trung T1 mang các giấy tờ trên đến nhà trả lại cho D. Phạm Thành D đã nhận các giấy tờ trên nhưng yêu cầu các anh Lê Hoài V và Đào Mạnh T phải trực tiếp đến gặp D để xin lỗi. Sau khi nhận được giấy tờ trả lại, D đã nảy sinh ý định gửi đơn tố cáo hai anh để uy hiếp tinh thần nhằm chiếm đoạt tài sản của họ. Từ ngày 27/9/2023 đến ngày 16/01/2024, D đã tự soạn thảo nhiều đơn (trên máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 7280 màu đen số S/N: 85S0HM2) và gửi đến nhiều nơi như: Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C; Giám đốc Công an thành phố C; Cục C1 Bộ C2, Thanh tra Bộ C2 và Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng với nội dung “Anh Vũ, anh T đã lạm dụng chức vụ quyền hạn, bỏ lọt vi phạm, báo lỗi khống, vi phạm quy tắc ứng xử, cướp giấy tờ của người tham gia giao thông trong quá trình tuần tra kiểm soát”, “Đồng chí Trưởng phòng, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C lạm dụng chức vụ quyền hạn, giải quyết đơn tố cáo trái pháp luật, bao che cho người bị tố cáo”... Ngày 29/9/2023, anh V và anh T đã nhờ anh T1 dẫn đến nhà D để xin lỗi. Đến nơi, D bảo anh T1 ra ngoài để D nói chuyện. Khi anh V và anh T xin lỗi và đề nghị D rút đơn tố cáo thì D yêu cầu hai anh mỗi người phải nộp cho D 50.000.000 đồng thì mới rút đơn. Nhưng anh V và anh T không đồng ý và đi về. Trong các ngày 20/12/2023 và ngày 21/01/2024, các anh V và T tiếp tục đến nhà D để xin lỗi và đề nghị D rút đơn tố cáo, nhưng D không đồng ý và yêu cầu hai anh phải đưa đủ cho D số tiền là 200.000.000 đồng thì mới rút đơn. Do lo sợ D gửi đơn tố cáo đến nhiều nơi làm ảnh hưởng đến công việc, uy tín, danh dự của mình nên hai anh đã đi vay số tiền 200.000.000 đồng mục đích đưa cho D để D không tiếp tục tố cáo.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 02/02/2024, anh V và anh T mang theo số tiền 200.000.000 đồng đến nhà D. Đến nơi, hai anh tiếp tục xin lỗi và xin D giảm số tiền đã yêu cầu thì D đồng ý giảm 50.000.000 đồng và yêu cầu hai anh phải đưa cho D số tiền là 150.000.000 đồng. Hai anh đồng ý với yêu cầu của D và đề nghị D viết đơn rút đơn tố cáo. Lúc này, D lấy giấy bút viết đơn rút đơn tố cáo đối với hai anh tại bàn làm việc ở nhà D. Sau khi D viết xong đơn thì anh T đi ra xe ô tô của mình lấy 150.000.000 đồng đựng trong túi giấy màu đỏ cầm vào nhà đưa cho D. D đã nhận tiền và kiểm tra rồi cầm tờ giấy có nội dung “Đơn rút tố cáo” vừa viết đi ra ngoài cửa nhà D đưa cho hai anh thì bị Công an quận H bắt quả tang, tiến hành niêm phong toàn bộ tang vật và đưa D về trụ sở Công an quận H để làm việc.
Quá trình điều tra, anh Lê Hoài V đã giao nộp 01 thiết bị ghi âm (màu đen, kích thước 4x2x0,3cm) ghi lại nội dung các cuộc hội thoại giữa hai anh và D liên quan đến việc rút đơn. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H cũng đã tiến hành ghi âm, ghi hình lời khai của Phạm Thành D, anh Lê Hoài V, anh Đào Mạnh Tuấn để phục vụ công tác giám định.
Tại Kết luận giám định số 1000/KL-KTHS ngày 05/02/2024 của V1 Bộ C2, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa trong tập tin âm thanh mẫu cần giám định. Không xác định được thời gian khởi tạo của các tập tin âm thanh trong mẫu cần giám định. Tiếng nói của người đàn ông xưng là “tôi”, được gọi là “Dương” trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Phạm Thành D trong mẫu so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của người đàn ông xưng là “em”, “Vũ” trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Lê Hoài V trong mẫu so sánh là của cùng một người. Tiếng nói của người đàn ông xưng là “em”, “T” trong mẫu cần giám định và tiếng nói của Đào Mạnh T trong mẫu so sánh là của cùng một người. Nội dung hội thoại trong tập tin âm thanh mẫu cần giám định đã được chuyển sang văn bản; Chi tiết được thể hiện trong 01 bản dịch nội dung ghi âm mẫu cần giám định (gồm 26 trang giấy khổ A4).
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 thẻ nhớ màu đen của camera gắn tại quầy bán thuốc tầng 1 nhà của Phạm Thành D lưu 02 đoạn clip (ký hiệu A). Tại Kết luận giám định số 373 ngày 06/02/2024 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: 02 tập tin video có phần mở rộng MP4 tổng dung lượng 512MB được lưu trong 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Lexar 128GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh. Thời gian hiển thị trên 02 tập tin là “02-02-2004” và “15-12-2023”. Tuy nhiên độ chính xác của thời gian phụ thuộc vào độ chính xác của đồng hồ hệ thống ảnh kèm theo. Trích xuất 15 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo.
Tại Kết luận giám định số 1413 ngày 16/5/2024 của Phòng K Công an thành phố C, kết luận: Trong mẫu giám định ký hiệu A1: Tìm thấy 1589 cuộc gọi, 74 tin nhắn tức thì, 13 cuộc hội thoại Facebook, 40 cuộc hội thoại Messenger, 35 cuộc hội thoại Native Messages, 155 cuộc hội thoại Zalo thời gian từ ngày 25/9/2023 đến ngày 02/02/2024 được lưu trong máy. Nội dung chi tiết các dữ liệu được lưu tại thư mục “A1” trong USB kèm theo. Không tìm thấy dữ liệu thời gian từ ngày 25/9/2023 đến ngày 02/02/2024 được lưu trong SIM. Trong mẫu giám định ký hiệu A2: Tìm thấy 1819 tập tin văn bản được lưu trong ổ cứng nhãn hiệu TOSHIBA 512GB có số S/N 18OS10LHTXGT gắn trong máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Laitude 7280. Nội dung chi tiết các dữ liệu được lưu tại thư mục “A2” trong USB kèm theo. Các dữ liệu được nén trong tập tin có phần mở rộng ZIP (MD5: 8BC67155B9F9EEF0CB6D7A4DB9371) lưu trong USB.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Phạm Thành D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên. Ngoài ra, D còn khai: Chiếc máy tính xách tay (nhãn hiệu DELL Latitude 7280 màu đen số S/N 85S0HM2) là của chị Vũ Thị Y (vợ D), D tự ý lấy để soạn thảo các đơn tố cáo anh V, anh T (việc này chị Y không biết). Số tiền 440.000 đồng là của D do bán thuốc mà có. Chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung GalaxyA12 D đã mua và sử dụng từ lâu, không liên quan đến vụ việc và 19 tờ tiền mệnh giá 100 đô la Mỹ là của chị gái D gửi cho mẹ đẻ của D để sinh hoạt và chữa bệnh.
Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 11/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố Phạm Thành D về tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Phạm Thành D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trả lại bị cáo và vợ bị cáo những tài sản không liên quan đến việc phạm tội do Cơ quan Điều tra tạm giữ trong vụ án. Bị cáo ủy quyền cho vợ là chị Vũ Thị Y nhận thay các tài sản của bị cáo được trả lại.
Tại phiên tòa, bị hại là anh Đào Mạnh Tuấn khai: Sau khi D làm đơn tố cáo gửi đến nhiều nơi, đơn khởi kiện gửi đến Toà án do lo sợ ảnh hưởng đến công việc, uy tín, danh dự nên anh và anh V đã đến nhà D để xin lỗi và đề nghị D rút đơn tố cáo nhưng D không đồng ý và yêu cầu hai anh mỗi người phải đưa cho D một số tiền thì mới rút đơn. Vì nhận thấy sự việc ngày 25/9/2023 cũng có một phần lỗi của mình nên anh và anh V quá lo sợ việc D làm đơn tố cáo gửi đến nhiều nơi, gửi đơn khởi kiện đến Toà án sẽ ảnh hưởng đến công việc, uy tín, danh dự của mình nên anh và anh V đã đi vay số tiền 200.000.000 đồng theo yêu cầu của D để D rút đơn tố cáo. Sau khi mang theo số tiền 200.000.000 đồng đến nhà D, do anh và anh V không có tiền, phải đi vay nên xin D giảm số tiền đã yêu cầu thì D đồng ý giảm 50.000.000 đồng và yêu cầu anh và anh V phải đưa cho D số tiền là 150.000.000 đồng. Sau khi anh và anh V đưa cho D số tiền trên thì D đã viết đơn rút đơn tố cáo đưa cho anh và anh V. Anh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, trả lại anh và anh Lê Hoài V số tiền 150.000.000 đồng hiện cũng đang bị tạm giữ trong quá trình điều tra. Cụ thể, trả lại mỗi anh 75.000.000 đồng. Anh T đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Vũ Thị Y đề nghị Hội đồng xét xử trả lại những tài sản của gia đình chị không liên quan đến việc phạm tội của D. Chị Y đồng ý nhận ủy quyền của bị cáo tại phiên tòa, thay mặt bị cáo nhận lại những tài sản của bị cáo trong trường hợp được Hội đồng xét xử xem xét, trả lại.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên Phạm Thành D phạm tội Cưỡng đoạt tài sản;
Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có bố là ông Phạm Ngọc H và mẹ là bà Mai Thị Q được Nhà nước tặng thưởng H1, Huy chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 2 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Thành D từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- - Trả lại cho các bị hại, anh Lê Hoài V và anh Đào Mạnh Tuấn số tiền 150.000.000 đồng (Theo Biên bản giao nhận tài sản ngày 21/6/2024 tại Kho bạc Nhà nước -);
- - Trả lại anh Lê Hoài V 01 thiết bị ghi âm màu đen kích thước 4x2x0,3cm;
- - Trả lại bị cáo Phạm Thành D 19 tờ tiền mệnh giá 100 đô la Mỹ, số tiền 440.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung GalaxyA12 màu đen có ốp màu trắng. Chị Vũ Thị Y (vợ bị cáo), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được ủy quyền nhận thay; (Theo biên bản giao nhận tài sản ngày 21/6/2024 tại Kho bạc Nhà nước -).
- - Trả lại chị Vũ Thị Y 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 7280 màu đen số S/N: 85S0HM2; 02 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu Lexar dung lượng 128gb, mặt sau có dòng chữ: LO13111 – 128GA8670 Y12501204913; 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu HIKVISION dung lượng 64gb, mặt sau có dòng chữ: YAHQ06S0106 – HS22030604GD (các thẻ nhớ của camera).
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; rất ân hận và xin lỗi các cá nhân, đơn vị, tổ chức có liên quan đã bị ảnh hưởng bởi hành vi sai trái, vi phạm pháp luật của bị cáo. Bị cáo đề nghị Toà án xem xét đến hoàn cảnh gia đình có mẹ già bị ốm đau, khuyết tật và các con còn nhỏ cần chăm sóc, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, xử phạt bị cáo mức án phù hợp để bị cáo sớm được về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của bị hại là anh Lê Hoài V, người làm chứng là anh Phạm Trung T1. Xét thấy anh V và anh T1 đã được triệu tập hợp lệ, đều vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên sự vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt họ.
- Về tội danh:
[3] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng trong vụ án, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Phạm Thành D đã lợi dụng việc các anh Lê Hoài V, Đào Mạnh T (đều là cảnh sát giao thông) dừng nhầm xe mô tô của D trong quá trình tuần tra, kiểm soát giao thông tại khu vực vòng xuyến Siêu thị G thuộc phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 25/9/2023. D đã tự soạn thảo nhiều đơn tố cáo và gửi đến nhiều nơi với mục đích để đe dọa, làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín và uy hiếp tinh thần anh V và anh T nhằm chiếm đoạt tiền của anh V và anh T. Hai anh đã nhiều lần gặp gỡ D xin lỗi và đề nghị rút khiếu nại, tố cáo nhưng D không đồng ý. Bị cáo chỉ đồng ý rút tố cáo nếu hai anh cho D khoản tiền 200.000.000 đồng. Vào hồi 12 giờ 10 phút ngày 02/02/2024, tại nhà mình ở số D đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng, Phạm Thành D đã nhận số tiền 150.000.000 đồng của anh V, anh T, đồng thời đang đưa đơn rút tố cáo cho anh V, anh T thì bị Đ Công an quận H bắt quả tang. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Thành D phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặt khác, bị hại là anh Đào Mạnh Tuấn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bố bị cáo là ông Phạm Ngọc H và mẹ là bà Mai Thị Q được Nhà nước tặng thưởng H1, Huy chương kháng chiến nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
[6] Xét nhân thân, tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Lần này phạm tội thuộc trường hợp rất ngiêm trọng. Bởi vậy, phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian, để đảm bảo tính răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, Xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo nhận định lại Mục [5]. Bởi vậy, cần xem xét giảm nhẹ cho Phạm Thành D một phần hình phạt;
[7] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của bị hại tổng số tiền là 150.000.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền này hiện đã được thu giữ. Anh V và anh T không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác, mà đề nghị được nhận lại số tiền bị chiếm đoạt nêu trên.
- Về xử lý vật chứng:
[9] Đối với số tiền 150.000.000 đồng của các bị hại đang tạm giữ trong vụ án: Đây là tài sản của anh V và anh T bị chiếm đoạt nên trả lại cho bị hại; mỗi người 75.000.000 đồng.
[10] Đối với 19 tờ tiền mệnh giá 100 đô la Mỹ gửi tại Kho bạc Nhà nước -. Qua điều tra, số tiền này là của chị gái bị cáo gửi cho mẹ chữa bệnh và sinh hoạt (khi bị bắt D đang là người quản lý số tiền này);
[11] Đối với số tiền 440.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung GalaxyA12 màu đen có ốp màu trắng thu giữ của D. Qua điều tra, số tiền này do bị cáo bán thuốc dược phẩm mà có, điện thoại không dùng vào việc phạm tội;
[12] Các khoản tiền và tài sản nêu tại Mục [10] và [11] bị cáo đề nghị được nhận lại và ủy quyền cho vợ là chị Vũ Thị Y nhận thay. Xét số tiền, tài sản này không liên quan đến tội phạm nên trả lại bị cáo. Chấp nhận việc ủy quyền nhận tài của bị cáo cho vợ là chị Vũ Thị Y.
[13] Đối với 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 7280 màu đen số S/N: 85S0HM2; 02 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu Lexar dung lượng 128gb, mặt sau có dòng chữ: LO13111 – 128GA8670 Y12501204913; 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu HIKVISION dung lượng 64gb, mặt sau có dòng chữ: YAHQ06S0106 – HS22030604GD là các thẻ nhớ của camera lắp đặt tại gia đình bị cáo; không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho chị Vũ Thị Y.
[14] Đối với 01 thiết bị ghi âm màu đen kích thước 4x2x0,3cm do anh Lê Hoài V giao nộp trả lại anh V.
[15] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[16] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố bị cáo Phạm Thành D phạm tội Cưỡng đoạt tài sản.
Xử phạt: P (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 02/02/2024.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xử;
Trả lại anh Lê Hoài V số tiền 75.000.000 đồng (bẩy mươi lăm triệu đồng); trả lại cho anh Đào Mạnh Tuấn 75.000.000 đồng (bẩy mươi lăm triệu đồng) (theo Biên bản giao nhận tài sản ngày 21/6/2024 tại KBNN – Hải Phòng).
Trả lại anh Lê Hoài V 01 thiết bị ghi âm màu đen kích thước 4x2x0,3cm (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
Trả lại cho bị cáo 19 tờ tiền mệnh giá 100 đô la Mỹ, số tiền 440.000 đồng và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung GalaxyA12 màu đen có ốp màu trắng. Chị Vũ Thị Y được quyền nhận thay. (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
Trả lại chị Vũ Thị Y 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL Latitude 7280 màu đen số S/N: 85S0HM2; 02 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu Lexar dung lượng 128gb, mặt sau có dòng chữ: LO13111 – 128GA8670 Y12501204913; 01 thẻ nhớ màu đen nhãn hiệu HIKVISION dung lượng 64gb, mặt sau có dòng chữ: YAHQ06S0106 – HS22030604GD (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An).
Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo và bị hại có mặt, anh Đào Mạnh Tuấn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Bị hại vắng mặt, anh Lê Hoài V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật;
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, chị Vũ Thị Y được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
