Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày: 12-8-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn.

Ông Giáp Văn Phẩm.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Tú – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử trực tuyến Tòa án nhân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nơi cư trú: Thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hoá: Lớp 6/12; Con ông: Giáp Văn V, sinh năm 1959 (đã chết); Con bà: Phạm Thị L, sinh năm 1961; Có vợ: Hà Thị Bích P, sinh năm 1989 và 01 con, sinh năm 2014.

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án. Tại bản án hình sự số 08, ngày 27/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xử phạt Đ 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/11/2022 Đ chấp hành xong hình phạt tù. Tính đến thời điểm phạm tội này chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt).

- Bị hại: Anh Tằng Văn N, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Đoàn Văn T sinh năm 1986 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố Dốc, thị trấn Phương Sơn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

2. Anh Chu Văn B, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

3. Anh Trần Văn V1, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

4. Chị Hà Thị Bích P1, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 12/5/2024, anh Tằng Văn N, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, biển kiểm soát 98M-6482 của anh Đoàn Văn T, sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố D, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang để đi lại. Sau khi mượn được xe, anh N điều khiển xe đi đến khu vực cổng chợ C, huyện L thì gặp Giáp Văn Đ, sinh năm 1990, trú tại: thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoàn hỏi anh N cho đi nhờ xe mô tô, anh N đồng ý. Sau đó anh N để Đ điều khiển xe mô tô chở anh N ngồi phía sau đi đến tổ dân phố T, thị trấn C, huyện L để đón Chu Văn B, sinh năm 1992, trú tại: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là bạn của Đ. Sau đó Đ điều khiển xe kèm anh NB quay ra Quốc lộ C, đi theo hướng về huyện S, tỉnh Bắc Giang. Khi đến ngã tư cơ khí, thị trấn C, huyện L thì Đ dừng xe để vào quán tạp hóa mua bánh ngọt ăn, khi quay ra thì B điều khiển xe mô tô thay Đoàn, còn Đ và anh N ngồi phía sau. B điều khiển xe mô tô đến ngã ba K, xã H, huyện L thì anh N nói với ĐB về việc anh N biết ở gần đây có một căn lán không có người ở, bên trong chắc có máy phun thuốc trừ sâu và anh N bảo ĐB đi vào đó trộm cắp, ĐB đồng ý. Anh N giao xe mô tô cho ĐB, đồng thời chỉ đường cho B điều khiển xe mô tô chở Đ đi vào vị trí căn lán ở thôn N, xã H, huyện L, còn anh N xuống xe và hẹn sau khi trộm cắp xong thì gặp ở ngã ba lối rẽ từ Quốc lộ C vào. B điều khiển xe mô tô chở Đ đến vị trí căn lán N đã chỉ, tuy nhiên thấy nhà dân ở gần đối diện căn lán trên có người nên cả hai không vào trộm cắp nữa. Lúc này B rủ Đ đem chiếc xe mô tô của anh N đi bán để lấy tiền cùng nhau tiêu sài, Đ đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày 12/5/2024, B điều khiển xe mô tô chở Đ đến cửa hàng thu mua sắt vụn của ông Trần Văn V1, sinh năm 1979 (trú tại: thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang) ở thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tại đây B mở cốp xe mô tô thấy trong cốp có 01 đăng ký mô tô, xe máy biển kiểm soát 98M1-6482, mang tên chủ xe Đoàn Văn T, B đã thỏa thuận bán chiếc xe mô tô trên kèm theo đăng ký xe cho ông V1 được số tiền 900.000 đồng. Số tiền trên ĐB đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Còn anh N đứng đợi không thấy BĐ mang xe ra trả nên cùng ngày anh Tằng Văn N đã có đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đề nghị giải quyết.

Ngày 12/5/2024, ông Trần Văn V1 giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, loại xe Nữ, màu Đen - Đỏ, số khung 111557, số máy 111557, dung tích xi lanh 100cc, biển kiểm soát 98M1-6482 và 01 đăng ký mô tô, xe máy, mang tên chủ xe Đoàn Văn T.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc xe mô tô do Đ chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTS ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L đã kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, loại xe nữ, màu Đen - Đỏ, số khung 111557, số máy 111557, dung tích xi lanh 100cm3, biển kiểm soát 98M1-6482, trị giá: 2.200.000 đồng.

Ngày 17/5/2024, Giáp Văn Đ đã đến Công an huyện L đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. Cùng ngày 17/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Đ xác định hiện trường anh N giao chiếc xe mô tô cho Đ.

Ngày 18/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành cho anh Tằng Văn N, Chu Văn B nhận dạng Giáp Văn Đ, kết quả: anh NB nhận tra Giáp Văn Đ là người thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh N.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Giáp Văn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được công bố tại phiên tòa.

Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKS-LNg ngày 18 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Giáp Văn Đ về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giáp Văn Đ từ 08 đến 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/5/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Giáp Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự thẩm.

Bị cáo không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy hoạt động điều tra thu thập chứng cứ và các tài liệu của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập đúng quy định của pháp luật.
  2. Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  3. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tang vật chứng thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: “Giáp Văn Đ, sinh năm 1990, trú tại: thôn X, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích. Khoảng 10 giờ ngày 12/5/2024, sau khi được anh Tằng Văn N, sinh năm 1990, trú tại thôn N, xã Y, huyện S, tỉnh Bắc Giang, giao cho điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, loại xe Nữ, màu Đen - Đỏ, biển kiểm soát 98M1-6482, trị giá 2.200.000 đồng để đi lại, Đ đã tự ý mang chiếc xe mô tô trên của anh N đi bán lấy tiền tiêu sài cá nhân”.
  4. Hành vi nêu trên của Giáp Văn Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
  5. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương; Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
  6. Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
  7. Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được xem xét theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  8. Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
  9. Đối với Chu Văn B, quá trình điều tra xác định mặc dù B biết chiếc xe mô tô trên là của anh Tằng Văn N nhưng vẫn rủ Giáp Văn Đ mang đi bán lấy tiền cùng nhau tiêu sài cá nhân. Tuy nhiên do giá trị của chiếc xe mô tô Bét và Đ chiếm đoạt là 2.200.000 đồng, bản thân Bét chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa có tiền án về các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174, 175 và 290 Bộ luật hình sự nên hành vi trên của B chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 175 Bộ luật hình sự. Ngày 12/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chu Văn B về hành vi nêu trên là có căn cứ và đúng quy định pháp luật. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  10. Đối với ông Trần Văn V1, quá trình điều tra xác định khi mua chiếc xe mô tô trên của Bét ông V1 không biết xe là do BĐ phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông V1 là có căn cứ.
  11. Về trách nhiệm dân sự: Anh Tằng Văn N và anh Đoàn Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì. Ngày 20/6/2024, chị Hà Thị Bích P sinh năm 1989 (là vợ của Giáp Văn Đ) đã bồi thường cho ông Trần Văn V1 số tiền 900.000 đồng, ông V1 đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  12. Về vật chứng: Ngày 20/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGEL, loại xe Nữ, màu Đen - Đỏ, số khung 111557, số máy 111557, dung tích xi lanh 100cc, biển kiểm soát 98M1-6482 và 01 Đăng ký mô tô cho chủ sở hữu là anh Đoàn Văn T. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
  13. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175; Điểm s khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giáp Văn Đ 08 (tám) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 17/5/2024). Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Giáp Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cứ trú;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Văn Thể

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 12/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giáp Văn Đ lạm dụng tín nhiệm CĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger