Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày 12-7-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành

Ông Nguyễn Trung Kiên

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/2024/TLST- HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2024/QĐXXST- HS ngày 28 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lường Văn P; Sinh ngày 15/5/1984 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

    Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lường Văn P1, sinh năm 1959 và bà Vì Thị P2 (đã chết); Bị cáo có vợ là Đèo Thị C, sinh năm 1986 và có 03 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 27/8/2014, Lường Văn P bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46; Điều 20; Điều 53 của Bộ luật hình sự, xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 97/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2020, hiện đã được xóa án tích.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/01/2024, ngày 08/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T quyết định trả tự do đối với Lường Văn P.

  2. Ngày 18/4/2024 Lường Văn P bị bắt để tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

    Họ và tên: Vàng Văn V; Sinh ngày 29/3/1975 tại huyện T, tỉnh Lai Châu;

    Nơi cư trú: Bản Đắc, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng Văn C1, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Lò Thị T, sinh năm 1955; Bị cáo có vợ là Lò Thị P3, sinh năm 1977 và có 02 con; Tiền án, Tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 06/3/2020, Vàng Văn V bị Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 11/2020/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án vào ngày 11/9/2021, hiện đã được xoá án tích.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/01/2024, tạm giam từ ngày 15/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị N, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L bào chữa cho các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 31/12/2023, Lường Văn P đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không rõ lai lịch từ bản Lun 2, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu lên bản N, xã P, huyện T mua H, mục đích để sử dụng và bán. Tại bản Noong Thăng, Lường Văn P mua được của một người đàn ông không rõ lai lịch 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với giá 1.000.000 đồng. Mua được H, Lường Văn P cầm trong lòng bàn tay phải đi bộ xuống đường Quốc lộ 32 thuê xe ôm của một người đàn ông không rõ lai lịch mang gói Heroine về nhà tại bản Lun 2, xã T, huyện T. Trong các ngày từ 31/12/2023, đến ngày 06/01/2024, mỗi ngày Lường Văn P lấy gói Heroine ra, cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức hít, số còn lại Lường Văn P gói lại bằng 02 lớp ni lon màu hồng cất giấu vào trong túi áo ngực mặc trên người không cho ai biết.

Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, Lường Văn P đang ở nhà thì có Vàng Văn V (người quen từ trước) gọi từ số điện thoại số 0924.814.xxx đến số điện thoại của Lường Văn P là số [...]. Qua điện thoại, Vàng Văn V hỏi Lường Văn P có Heroine bán không?, nếu có thì bán cho V 500.000 đồng, Lường Văn P đồng ý. Vàng Văn V bảo Lường Văn P mang Heroine ra đường cho Vàng Văn V. Sau khi trao đổi việc mua, bán Heroine với Vàng Văn V, Lường Văn P cầm gói Heroine xuống đường gần cầu thuộc bản Lun 2, xã T, huyện T cất giấu gói Heroine vào hốc đá ven đường rồi ngồi đợi Vàng Văn V đến như đã hẹn. Một lúc sau, Vàng Văn V đi xe mô tô đến đưa cho Lường Văn P số tiền 500.000 đồng (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng). Lường Văn P nhận tiền rồi lấy gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) cất giấu tại hốc đá ra giao cho Vàng Văn V. Sau khi bán Heroine cho V, Lường Văn P quay về nhà và xóa cuộc gọi điện thoại mà Vàng Văn V đã gọi đến số máy của P trước đó. Số tiền có được do bán H cho Vàng Văn V, Lường Văn P đã mang đi mua thức ăn hết 300.000 đồng.

Mua được Heroine của Lường Văn P, Vàng Văn V điều khiển xe mô tô quay về nhà. Trên đường về, Vàng Văn V đi vào bụi cây ven đường lấy gói Heroine vừa mua được ra cấu lấy một ít sử dụng bằng hình thức chích. Số Heroine còn lại, Vàng Văn V gói lại như cũ rồi nhặt mảnh lá chuối khô gói thêm bên ngoài, cất giấu trong túi áo ngực đang mặc trên người không cho ai biết. Đến 13 giờ 00 phút cùng ngày, khi Vàng Văn V điều khiển xe mô tô về đến địa phận bản Đắc, xã H, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị Tổ công tác Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ trong túi áo ngực bên trái đang mặc trên người của Vàng Văn V là 01 gói Heroine (bên ngoài gói bằng mảnh lá chuối khô, bên trong được gói bằng 02 lớp ni lon màu hồng); 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WIN 100, biển kiểm soát 21V8-7088; 01 chiếc điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu Masstel.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Văn P, Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu MXMID và số tiền 400.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng là tiền do Lường Văn P bán Heroine cho Vàng Văn V mà có.

Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 58 ngày 06/01/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và Kết luận giám định số 149 ngày 10/01/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Vàng Văn V có khối lượng 0,87 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin). có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2017 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NDD-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Tại bản Kết luận giám định số 152 ngày 11/01/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số tiền 400.000 đồng thu giữ của Lường Văn P là tiền thật.

Vật chứng của vụ án gồm: 0,87 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định 0,15 gam không hoàn lại mẫu vật, còn lại 0,72 gam; 02 mảnh ni lon màu hồng; 02 mảnh lá chuối khô; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WIN 100, biển kiểm soát 21V8-7088; 01 chiếc điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu Masstel; 01 điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu MXMID; số tiền 400.000 đồng. Các vật chứng còn lại của vụ án hiện đang được lưu giữ tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 21/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lường Văn P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Vàng Văn V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn P 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vàng Văn V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn P. Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Văn V.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,72 gam Heroine còn lại thu giữ của Vàng Văn V. Tịch thu tiêu huỷ 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 mảnh lá chuối khô, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WIN 100, biển kiểm soát 21V8-7088 và 01 chiếc điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu Masstel thu giữ của Vàng Văn V; 01 điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu MXMID và số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lường Văn P. Truy thu số tiền 300.000 đồng của Lường Văn P do bị cáo bán H1 mà có, trong đó đã truy thu 200.000 đồng, tiếp tục truy thu số tiền 100.000 đồng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn cho các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V nhất trí với luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính, hình phạt bổ sung và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; đồng thời là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; nguyên nhân, điều kiện phạm tội xuất phát từ hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xử phạt các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V mức án thấp nhất mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và nhất trí với luận cứ bào chữa, không bổ sung lời bào chữa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho các bị cáo đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 18 giờ ngày 31/12/2023, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lường Văn P đã mua trái phép 01 gói Heroine của một người không rõ lai lịch với số tiền 1.000.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán. Mua được H, Lường Văn P mang về nhà tại bản Lun 2, xã T, huyện T, mỗi ngày cấu lấy một ít sử dụng. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/01/2024, tại bản Lun 2, xã T, huyện T, Lường Văn P đã bán trái phép 01 gói Heroine cho Vàng Văn V lấy số tiền 500.000 đồng. Đến hồi 13 giờ ngày 06/01/2024, tại bản Đắc, xã H, huyện T, Vàng Văn V bị Công an huyện T bắt quả tang thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,87 gam. Giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lường Văn P, Cơ quan điều tra thu giữ số tiền 400.000 đồng, trong đó có 200.000 đồng do bán Heroine mà có.

Các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích thu lời bất chính bị cáo Lường Văn P đã có hành vi mua ma tuý về để sử dụng và bán kiếm lời, bị cáo đã trực tiếp bán Heroine cho Vàng Văn V thu lời bất chính số tiền 500.000 đồng; Bị cáo Lường Văn P phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với khối lượng H đã bán cho Vàng Văn V. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Đối với Vàng Văn V do nghiện chất ma túy bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,87 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V đều sinh sống tại huyện T, tỉnh Lai Châu. Các bị cáo đều có vợ, con nhưng đã không làm tròn trách nhiệm của người chồng, người cha trong gia đình, làm ăn phát triển kinh tế, nuôi dạy con cái, làm gương cho các con. Các bị cáo sử dụng chất ma tuý dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội. Các bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội phạm ma tuý. Mặc dù đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Do nghiện ma tuý, muốn có ma tuý để phục vụ nhu cầu bản thân và thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý các bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật mà cố ý thực hiện hành vi phạm tội cho thấy thái độ coi thường pháp luật của các bị cáo.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn, bản thân các bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ cận nghèo; Các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối bị cáo Lường Văn P và theo quy định khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Văn V.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 0,87 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã gửi giám định 0,15 gam không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết, còn lại 0,72 gam Heroine là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ; Đối với 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 mảnh lá chuối khô, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu là những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WIN 100, biển kiểm soát 21V8-7088 và 01 chiếc điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu Masstel thu giữ của Vàng Văn V và 01 điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu MXMID thu giữ của Lường Văn P là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lường Văn P là tiền bị cáo do phạm tội mà có; truy thu của Lường Văn P số tiền 300.000 đồng do bị cáo bán Heroine mà có, trong đó đã truy thu số tiền 200.000 đồng, tiếp tục truy thu số tiền 100.000 đồng.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Gia đình các bị cáo Vàng Văn V, Lường Văn P thuộc diện hộ nghèo và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V mỗi bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Lường Văn P4, Vàng Văn V. Các bị cáo nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý cùng thực hiện hành vi phạm tội, khối lượng ma túy bị cáo bán, tàng trữ để bán cao hơn so với khối lượng ma tuý quy định mức khởi điểm của khung hình phạt. Do vậy, cần có mức án tương xứng trong khung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[10] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, bị cáo Lường Văn P khai mua từ một người không rõ lai lịch nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lường Văn P;
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Vàng Văn V;
  • - Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tuyên bố các bị cáo Vàng Văn V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt:

    • - Xử phạt bị cáo Lường Văn P 03 (Ba) năm tù. Khấu trừ cho bị cáo 02 (Hai) ngày tạm giữ, thời hạn thi hành hình phạt tù còn lại là 02 (Hai) năm 11 (Mười một) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tính từ ngày 18/4/2024.
    • - Xử phạt bị cáo Vàng Văn V 02 (Hai) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 06/01/2024.
  3. Về vật chứng:

    Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong bên trong đựng 0,72 gam Heroine.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì công văn Công an huyện T bên trong đựng 02 mảnh ni lon màu hồng, 02 lá chuối khô, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô, nhãn hiệu HONDA WIN 100, màu sơn đen- xanh, biển kiểm soát 21V8-7088; 01 điện thoại loại bàn phím nhãn hiệu Masstel, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 358414107446404; 01 điện thoại loại bàn phím, nhãn hiệu MXMID màu đỏ, số IMEI 1: 865736904169623, số IMEI 2: 865736904200931; số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) thu giữ của Lường Văn P. Truy thu của Lường Văn P số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

    (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 04 tháng 7 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).

    Tiếp tục truy thu của Lường Văn P số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho các bị cáo Lường Văn P, Vàng Văn V mỗi bị cáo 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên;
  • - CQĐT, CQTHAHS huyện Than Uyên;
  • - Nhà Tạm giữ Công an huyện Than Uyên;
  • - Chi cục THADS Than Uyên;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa cho các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA



ĐÃ KÝ

Quàng Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn P - Vàng Văn V - phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger