TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/HS-ST Ngày 11-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Chum.
Ông Đoàn Quang Mạnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà: Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Sùng Thị D, sinh ngày 01/01/1966, tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản Hua Đán, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A M, đã chết và con bà Thào Thị S, sinh năm 1950; có chồng là Vàng A P, sinh năm1963; có 01 con sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự, nhân thân: không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/02/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Bá L. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người phiên dịch cho bị cáo: Bà Vàng Thị D1. Địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Sùng Thị D bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào hồi 17 giờ 40 phút ngày 06/02/2024, tại bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Sùng Thị D, sinh ngày 01/01/1966, ở bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ do Sùng Thị D tự giác lấy từ trong vạt áo phía trước bụng giao nộp: 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Sùng Thị D khai là H để sử dụng.
Ngày 06/02/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:
Vật chứng thu giữ do Sùng Thị D tự giác giao nộp: 01 gói được gói bằng nilon màu hồng bên trong có chứa cục bột màu trắng, Sùng Thị D khai là H để sử dụng, có khối lượng 0,25 gam, lấy 0,09 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu D1.
Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại Kết luận giám định số: 501/KL-KTHS ngày 08/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
Mẫu ký hiệu D1 là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là 0,09 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,25 gam Heroine;
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Sùng Thị D, người bào chữa không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Quá trình điều tra Sùng Thị D khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 06/02/2024 Sùng Thị D đi bộ đến bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, tại đây Sùng Thị D có gặp và mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên và địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000, đồng cất giấu trong vạt áo phía trước bụng đi về, đến hồi 17 giờ 40 phút ngày 06/02/2024 thì bị Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Về nguồn gốc ma túy Sùng Thị D khai mua của một người đàn ông dân tộc mông biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Sùng Thị D.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Sùng Thị D đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Bản cáo trạng số: 66/CT-VKS-ML ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Sùng Thị D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Sùng Thị D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Sùng Thị D từ 20 đến 26 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo do không có tài sản.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 0,16 gam Heroine (đều được niêm phong).
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do là hộ nghèo.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người bào chữa nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Bị cáo Sùng Thị D thừa nhận: Hồi 17 giờ 40 phút ngày 06/02/2024, tại bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,25 gam, mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Sùng Thị D đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.
Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.
Bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3]. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 0,16 gam Heroine (đều được niêm phong).
Về nguồn gốc ma túy Sùng Thị D khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 100.000, đồng. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Sùng Thị D, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do thuộc hộ nghèo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố Sùng Thị D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Sùng Thị D 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/02/2024.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu hồng; 0,16 (không phẩy mười sáu) gam Heroine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 06/02/2024).
Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Sùng Thị D.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 11/6/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Nguyễn Minh Tuấn |
Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 101/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự số 101, ngày 11/6/2024
