Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày 09-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét Xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Yến Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

2/ Bà Lê Thị Khanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Ung Tuấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh B - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 79/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

HUỲNH CHÍ HUY HOÀNG, sinh năm:1989 tại TP H;

Thường trú: 453/9 phường I, quận P, TP . ( Đã xóa khẩu); Nơi ở hiện tại: 11/7 ấp C, xã X, huyện H, TP .; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Cha: Không rõ; Mẹ: Huỳnh Chí Ái L; Anh chị em ruột: bị cáo là con một; Vợ tên Vũ Thị Thanh N, sinh năm: 1995; Bị cáo có 01 con tên Huỳnh Vũ Gia H, sinh năm: 2014; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/11/2023 cho đến nay, bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.

Người tham gia tố tụng:

Bị hại: Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1982. (Vắng mặt)

Địa chỉ : 6 Tổ A, Ấp G, xã X, huyện H, TP .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/Ông Trần Duy T(Vắng mặt)

Địa chỉ: C C, Phường A, Quận A, TP .;

2/Bà Cao Đắc Quỳnh Đoan (Vắng mặt)

Địa chỉ: 3 N, phường V, quận C, TP H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 30 ngày 21/11/2023, Huỳnh Chí Huy H1 phát hiện chị Đặng Thị N1 điều khiển xe máy hiệu YAMAHA LUVIS, biển số 63B8-107.47 dựng xe trước cổng trường tiểu học T1, xã X, huyện H, trên xe còn cắm chìa khóa xe rồi đi vào tiệm tạp hóa gần đó mua đồ. Lợi dụng sơ hở trên, Hoàng lẻn đến mở khóa xe, nổ máy lấy trộm xe bỏ chạy thoát. Trên đường đi, H1 mở cốp xe thấy có 01 giấy đăng ký xe mô tô, biển số 63B8-107.47 và 01 số giấy tờ tùy thân mang tên Đặng Thị N1 rồi điều khiển xe biển số 63B8-107.47 đi gặp Cao Đắc Quỳnh Đ (là mợ của H1), nhờ Đ đi cầm giùm xe máy trên. H1 nói xe vừa mua nhưng do bản thân không có căn cước công dân nên không cầm được. Đ đồng ý. Cả hai đi đến tiệm C, địa chỉ C B C, phường A, quận A thì H1 mở cốp xe lấy giấy đăng ký xe đưa cho Đ rồi Đ đi vào tiệm gặp anh Trần Duy T cầm xe với giá 6.000.000 đồng. Đ nói xe của Đ, đưa căn cước công dân của Đ và giấy đăng ký xe mô tô, biển số 63B8-107.47 nên anh T đồng ý cầm xe. Đ cầm số tiền trên đi ra đưa cho H1, H1 cho Đ 370.000 đồng. Sau khi phát hiện bị mất xe, chị N1 đến Công an xã X trình báo. Khi Công an đến làm rõ việc cầm xe trên thì anh T mở cốp xe biển số 63B8-107.47 thì phát hiện số giấy tờ của chị N1 nên đã giao nộp cho Cơ quan Công an.

Theo Kết quả định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện H: 01 xe máy Yamaha Luvias FI màu xanh xám, biển số 63B8-107.47, số khung SK10FY025905, số máy: 1SK1025917: 4.500.000 đồng (BL111-114)

Qua truy xét, Cơ quan điều tra đã mời H1 về làm việc và H1 thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) xe gắn máy Yamaha Luvias FI biển số 63B8-107.47 (SM: 1SK1025917; SK: RLCL1SK10FY025905) cùng 01 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, thẻ ngân hàng Đ1, S mang tên Đặng Thị N1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N1;
  • 01 USB ghi lại dữ liệu camera lúc xảy ra sự việc.

Về phần dân sự: bị hại Đặng Thị N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm; anh Trần Duy T không có yêu cầu bà Đ trả lại số tiền 6.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 89/CT-VKSH.HM ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Huỳnh Chí Huy H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo H1 từ 01( Một) năm đến 01( Một) năm 06( sáu) tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định.

Các ý kiến sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi thảo luận, nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Người bị buộc tội và người những tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Chí Huy H1 thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận ngày 21/11/2023 khi đi ngang cổng trường tiểu học T1, xã X, huyện H, bị cáo thấy chiếc xe gắn máy của bà Đặng Thị N1 để trước nhà không có người trông coi, trên xe có sẵn chìa khóa nên bị cáo đã lén lút trộm chiếc xe trên và nhờ mợ tên Cao Đắc Quỳnh Đ cầm cố trót lọt cho ông Trần Duy T. Theo Kết quả định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng huyện H: 01 xe máy Yamaha Luvias FI màu xanh xám, biển số 63B8-107.47, số khung SK10FY025905, số máy: 1SK1025917 có giá 4.500.000 đồng. Lời khai của bị cáo H1 tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, của bị hại tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở nhận định hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Bị cáo Huỳnh Chí Huy H1 là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết hành vi trộm cắp tài sản là trái pháp luật, nhưng vì lợi ích tư lợi của bản thân bị cáo vẫn quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng. Bằng hành vi phạm tội của mình bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận xấu trong nhân dân. Hội đồng xét xử xét thấy cần có hình phạt thật nghiêm khác đối với bị cáo để thể hiện tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

Tiền án, tiền sự: Không;

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được bị hại làm đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Đây được xác định là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5]Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đề nghị Hội đồng xét xử phạt tù bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với hành vi cầm xe của bà Cao Đắc Quỳnh Đ và nhận cầm xe của ông Trần Duy T: cả bà Đ và ông T đều không biết xe do bị cáo H1 trộm cắp được nên không xử lý và không xét.

Nói lời sau cùng, tại phiên tòa bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với: 01 (một) xe gắn máy Yamaha Luvias FI biển số 63B8-107.47 và cùng 01 căn cước công dân, 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, thẻ ngân hàng Đ1, S mang tên Đặng Thị N1, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét;
  • Đối với 01 USB ghi lại dữ liệu camera lúc xảy ra sự việc, là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[8]Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại Đặng Thị N1 vắng mặt nhưng chứng cứ tại hồ sơ thể hiện bị hại đã nhận lại được tài sản và có đơn yêu không yêu cầu bồi thường đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Duy T không yêu cầu người cầm xe dùm bị cáo bà Cao Đắc Q Đoan trả lại số tiền 6.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về Án phí: Bị cáo phải chịu Án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 106 và điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1./Về tội danh và hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Chí Huy H1 01( Một) năm 03 ( Ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2023.

2./Về xử lý vật chứng:

Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu camera ghi nhận hành vi phạm tội của bị cáo.

3./Về Án phí Hình sự sơ thẩm:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng, thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a, 07b và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4./Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc ngày bản sao Bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - VKSND H. Hóc Môn;
  • - Công an H. Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS H. Hóc Môn;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Yến Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger