|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2024/HSST |
|
|
Ngày: 06/9/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tự Sinh
Thẩm phán: Ông Trần Minh Long
Hội thẩm nhân dân.
Bà Hà Thị Minh Phượng
Ông Huỳnh Hưng
Ông Đặng Công Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Na – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Quang Vương - Kiểm sát viên.
Ngày 06/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 105/2024/TLST-HS ngày 19/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:
LÊ THỌ CẨM C1; sinh ngày 02 tháng 3 năm 1994 tại Quảng Trị; nơi ĐKTT và chỗ ở: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Ngọc H (chết) và bà Lê Thị T; có chồng là Nguyễn Như T1 (đã ly hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa. * Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thành T2 - Luật sư Văn phòng Luật sư Đồng Thông thuộc Đoàn Luật sư thành phố Đ; có mặt.
* Bị hại: Công ty TNHH T8; địa chỉ: Số G, M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Dũng T3, sinh năm 1988; trú tại 4 N, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, ông T3 ủy quyền cho ông Trương Văn L; sinh năm 1979; trú tại: K N, phường A quận S, thành phố Đà Nẵng; ông L vắng mặt.
1
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Châu T4; sinh năm 1974; trú tại: Số E M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
- Ông Nguyễn Hữu S; sinh năm 1984; trú tại: Tổ G, thôn Q, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; vắng mặt.
- Bà Trần Thị Hồng T5; sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Hoàng Cẩm C; sinh năm 1991; nơi cư trú: K N, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH T8, số G M, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng kinh doanh lĩnh vực cho thuê xe ô tô tự lái, do anh Nguyễn Dũng T3 làm giám đốc. Anh T3 ủy quyền lại cho ông Trương Văn L quản lý công ty. Lê Thọ Cẩm C1 thường thuê xe ô tô tự lái tại công ty này. Vào tháng 6/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân, C1 đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách liên hệ thuê xe ô tô tự lái, sau đó lên mạng xã hội làm giả Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Lê Thọ Cẩm C1 để mang đi cầm cố và chiếm đoạt tài sản. Từ ngày 25/6/2023 đến ngày 20/9/2023, C1 thực hiện 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt 03 xe ô tô của anh Trương Văn L, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào ngày 25/6/2023, C1 đến gặp anh Trương Văn L thuê xe ôtô hiệu KIA biển kiểm soát 92A-255.86 của Công ty TNHH T8 từ ngày 25 đến 29/6/2023 (xe trị giá 478.000.000 đồng, thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu S1 đồng kinh doanh ký gửi cho công ty). Sau khi thuê xe xong, C1 lên mạng xã hội liên hệ với một đối tượng (không rõ lai lịch), cung cấp thông tin cá nhân của mình và hình ảnh đăng kí xe ô tô 92A-255.86 cho đối tượng làm giả 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô. Khoảng 03 ngày sau, C1 nhận được giấy tờ giả do nhân viên giao hàng đến giao cho C1 tại địa chỉ số I đường T, TP ., C1 trả chi phí làm giả là 3.000.000 đồng cho nhân viên giao hàng. Đến ngày 30/6/2023, khi hết hạn thuê xe, C1 tiếp tục ký tiếp hợp đồng thuê xe với anh L từ ngày 30/6/2023 đến ngày 01/7/2023. Ngày 30/6/2023, C1 điều khiển xe ô tô và đem theo đăng kí xe giả đến hiệu cầm đồ T, địa chỉ E M, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng do anh Phan Châu T4 làm chủ và cầm cố chiếc xe này cho anh T4. Cát nói xe này do C1 đứng tên chủ sở hữu và đưa cho anh T4 01 đăng kí xe giả đứng tên Lê Thọ Cẩm C1. Anh T4 kiểm tra giấy tờ xong thì tin tưởng là thật nên đồng ý cầm cố chiếc xe này với số tiền 160.000.000 đồng, đến ngày 30/8/2023, C1 liên hệ
2
anh T4 để nhận thêm số tiền 140.000.000 đồng, tổng cộng C1 lấy của anh T4 300.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, C1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ hai: Với phương thức thủ đoạn nêu trên, vào ngày 03/9/2023, Lê Thọ Cẩm C1 liên hệ anh Trương Văn L thuê 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 3, biển kiểm soát 43A-606.19 (xe trị giá 507.000.000 đồng, thuộc sở hữu của bà Trần Thị Hồng T6 đồng kinh doanh ký gửi cho công ty). Sau khi giao nhận xe và các giấy tờ xe liên quan, C1 gửi hình ảnh đăng kí xe ô tô 43A-606.19 cho đối tượng làm giả giấy tờ xe của C1 (cũng chính là đối tượng làm giả giấy tờ của chiếc xe trước) và yêu cầu đối tượng này làm giả đăng kí xe đứng tên Lê Thọ Cẩm C1 với giá 3.000.000 đồng. Ngày 04/9/2023, C1 nhận được đăng kí xe ô tô biển kiểm soát 43A-606.19 giả mang tên Cát từ nhân viên giao hàng. Sau đó, C1 điều khiển xe ô tô và đem theo giấy tờ giả đến hiệu cầm đồ Thanh Hằng của anh Phan Châu T4 để cầm cố chiếc xe. Cũng như lần trước, sau khi kiểm tra, anh Thông tin t nên đồng ý cầm chiếc xe nêu trên với số tiền 270.900.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, C1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba: Cũng với phương thức thủ đoạn trên, vào ngày 18/9/2023, Lê Thọ Cẩm C1 liên hệ anh Trương Văn L tiếp tục thuê xe ô tô, anh L nghi ngờ có hỏi C1 tại sao thuê nhiều xe thì C1 đưa ra thông tin gian dối là công ty của C1 cần nhiều xe để làm hình ảnh nhằm thu hút khách hàng. Vì tin tưởng lời C1 nói là thật nên anh L đồng ý cho thuê xe và gửi giấy tờ xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, loại XPANDER biển kiểm soát 43E-004.72 cho C1 xem trước. Có được giấy tờ xe, C1 liên hệ đối tượng làm giả giấy tờ như 02 lần trên và đặt làm giả đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43E-004.72 mang tên Lê Thọ Cẩm C1 với số tiền 3.000.000 đồng. Đến sáng ngày 20/9/2023, C1 nhận được chiếc xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, loại XPANDER biển kiểm soát 43A- 004.72. (xe trị giá 530.000.000 đồng, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Hoàng Cẩm C hợp đồng kinh doanh ký gửi cho công ty). Tuy nhiên, do chưa nhận được đăng kí xe giả nên chưa đến gặp anh T4 để cầm cố được. Đến ngày 21/9/2023, C1 nhận được giấy tờ giả, C1 đem xe và giấy tờ xe giả đến gặp anh T4 để cầm cố xe. Anh T4 có hỏi nguồn gốc xe thì C1 đưa ra thông tin gian dối là gia đình C1 có đầu tư xe tự lái nên C1 có nhiều xe. Ông Thông tin t nên đồng ý cầm cố xe, hai bên ký hợp đồng cầm cố xe ô tô XPANDER biển kiểm soát 43A - 004.72 với số tiền 220.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, C1 sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Tang vật thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh đen.
- 01 Hợp đồng cầm cố đề ngày 30/6/2023; 01 Hợp đồng cầm cố đề ngày 05/9/2023; 01 (một) Hợp đồng cầm cố đề ngày 21/6/2023.
3
- 01 xe ô tô nhãn hiệu KIA CERATO, biển kiểm soát: 92A-255.86, màu xanh, loại 05 chỗ; 01 xe ô tô nhãn hiệu MAZDA 3, biển kiểm soát: 43A-606.19, màu trắng, loại 05 chỗ; 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI XPANDER, biển kiểm soát: 43E-004.72, màu trắng, loại 07 chỗ.
- 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43E-004.72, mã số: 43020632 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 12/9/2023, nơi cấp Phòng C5; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43A-606.19, mã số: 43003539 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 23/6/2023, nơi cấp Phòng C5; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 92A-255.86, mã số: 92005291 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 23/8/2023, nơi cấp Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q.
* Tại Kết luận giám định số 991/KL-KTHS ngày 01/11/2023, của Phòng K Công an thành phố C5 kết luận: 02 Chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Lê Thọ Cẩm C1 (gồm số: 43 003539; nhãn hiệu Mazda; số loại 3 15G ATSD; biển số đăng ký: 43A-606.19, in cấp ngày 23/6/2023 và số: 43 020632; nhãn hiệu Mitsubishi; số loại Xpander AT; biển số đăng ký: 43E-004.72, in cấp ngày 12/09//2023) là giả. Bản in “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” trên mẫu cần giám định (một Chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên Lê Thọ Cẩm C1 có số 92 005291; nhãn hiệu: Cerato, biển số đăng ký: 92A-255.86, in cấp ngày 23/8/2021) so với bản in “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE Ô TÔ” trên mẫu so sánh, không phải do cùng một bản in ra.
Với nội dung trên, tại Bản cáo trạng số 133/CT-VKS-P2 ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Thọ Cẩm C1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo các điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thọ Cẩm C1 tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo từ 10 năm tù đến 11 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 11 năm 03 tháng tù đến 12 năm 06
4
tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị HĐXX buộc bị cáo bồi thường số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt cho anh Phan Châu T4.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như đã đề nghị tại bản Cáo trạng.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lê Thọ Cẩm C1 thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bào chữa cho bị cáo, luật sư có quan điểm thống nhất về tội danh, điểm khoản và điều luật mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Tuy nhiên, luật sư cho rằng khi quyết định hình phạt cho bị cáo cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng như: bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; trong quá trình điều tra đã bồi thường nhằm khắc phục một phần hậu quả đã gây ra; bị cáo đang nuôi con nhỏ; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Châu T4 yêu cầu HĐXX buộc bị cáo bồi thường lại cho ông số tiền cầm cố xe ô tô còn lại chưa bồi thường là 490.900.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa, cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về tố tụng. Sau khi kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên toà, HĐXX kết luận các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát, luận cứ bào chữa của luật sư, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác đã được điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ ngày 25/6/2023 đến ngày 30/9/2023, do có ý định chiếm đoạt xe ô tô của
5
người khác đem cầm cố, Lê Thọ Cẩm C1 đã thuê 03 chiếc xe ô tô của Công ty TNHH T9 cầm cố cho anh Phan Châu T4 lấy tiền tiêu xài.
Sau khi thuê xe, Cát liên hệ với đối tượng trên mạng xã hội, cung cấp thông tin cá nhân của mình và hình ảnh đăng kí các xe ô tô đã thuê cho đối tượng làm giả 03 Chứng nhận đăng ký xe ô tô rồi đem đến hiệu cầm đồ Thanh Hằng do anh Phan Châu T4 làm chủ và cầm cố 03 chiếc xe này cho anh T4 lấy tổng cộng 790.900.000.000 đồng.
Với hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối, làm giả Chứng nhận đăng ký xe ô tô của Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố C5, Chứng nhận đăng ký xe ô tô của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q, Hội đồng xét xử đánh giá bị cáo Lê Thọ Cẩm C1 đã phạm vào các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 174, Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Xét bị cáo Lê Thọ Cẩm C1 lừa đảo chiếm đoạt 03 xe ô tô trị giá 1.515.000.000 đồng; 03 lần làm giả 03 Chứng nhận đăng ký xe ô tô. Do vậy cần phải áp dụng tình tiết phạm tội thuộc trường hợp “chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên” được quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự; tình tiết phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên”, “làm giả từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu” được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đây là vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến hoạt động bình thường cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính cơ quan Nhà nước về con dấu, tài liệu, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Thông qua thủ đoạn thuê xe ô tô tự lái, bị cáo đã làm cho bị hại tin và giao xe, sau khi chiếm hữu các xe ô tô, bị cáo đã làm giả Chứng nhận đăng ký xe ô tô rồi mang xe ô tô và Chứng nhận đăng ký xe ô tô giả đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Trong thời gian ngắn bị cáo đã liên tiếp thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản. Do vậy cần phải áp dụng các tình tiết “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự để tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã khai B, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường 300.000.000 đồng nhằm khắc phục một phần hậu quả đã gây ra, bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; nhân thân chưa có tiền
6
án tiền sự, lần đầu bị xét xử, bị cáo hiện đang mang thai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại đã thu hồi được tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Châu T7 cầu bị cáo bồi thường số tiền cầm cố xe ô tô còn lại là 490.900.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của anh Phan Châu T4 là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng và chưa xử lý, căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xử lý như sau:
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh đen thu giữ của bị cáo, xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43E-004.72, mã số: 43020632 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 12/9/2023, nơi cấp Phòng C5; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43A-606.19, mã số: 43003539 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 23/6/2023, nơi cấp Phòng C5; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 92A-255.86, mã số: 92005291 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 23/8/2023, nơi cấp Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q, qua giám định là giả, đây là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy.
- Đối với 01 Hợp đồng cầm cố đề ngày 30/6/2023; 01 Hợp đồng cầm cố đề ngày 05/9/2023; 01 Hợp đồng cầm cố đề ngày 21/6/2023, xét thấy đây là tài liệu, chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
[6] Đối với những vấn đề khác trong vụ án:
Trong vụ án này, đối với đối tượng đã làm giả 03 Đăng ký xe ô tô cho Lê Thọ Cẩm C1, hiện chưa rõ lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Thọ Cẩm C1 các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, n khoản 1; khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều
7
38; Điều 55 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Thọ C (Mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 02 (H1) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 13 (Mười ba) năm tù, được trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 26/10/2023 đến ngày 04/11/2023 là 09 ngày, hình phạt tù còn lại là 12 (Mười hai) năm, 11 (Mười một) tháng, 21 (Hai mươi mốt) ngày. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo bồi thường cho ông Phan Châu Thông s tiền 490.900.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu, chín trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh đen thu giữ của bị cáo.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43E-004.72, mã số: 43020632 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 12/9/2023, nơi cấp Phòng C5; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 43A-606.19, mã số: 43003539 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 23/6/2023, nơi cấp Phòng C5; 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát 92A-255.86, mã số: 92005291 mang tên Lê Thọ Cẩm C1; cấp ngày 23/8/2023, nơi cấp Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Q.
(Vật chứng hiện do Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024).
- Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 24.545.000 đồng.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
8
ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tự Sinh |
9
Bản án số 101/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 101/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thọ Cẩm C
