Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Bản án số: 101/2024/HS-ST

Ngày: 06-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đích và bà Nguyễn Thị Kim Ngân

Thư ký phiên tòa: Ông Lã Phú Huy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đào Đức Hữu - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 96/2024/HS-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST - HS ngày 26 tháng 8 năm 2024; đối với bị cáo:

Võ Hiếu, tên gọi khác: Không; sinh ngày 26/12/1992, tại Đà Nẵng; giới tính: Nam; nơi cư trú: Số D đường B, tổ E, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; con ông Võ G, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1966; có vợ tên Phan Thị Hoàng H, sinh năm: 1992 và có 02 con, cùng sinh năm 2023.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/5/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Võ G, sinh năm 1963; địa chỉ: Số D đường B, tổ E, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Chị Phan Thị Hoàng H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số D đường B, tổ E, phường N, quận S, TP . Có mặt.

- Người chứng kiến:

+ Anh Trần Ngọc C, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ C, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn D, sinh năm 1960; địa chỉ: Số G đường B, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy, nên vào ngày 20/5/2024 Võ H1 liên lạc với một người phụ nữ tên “Lan” (chưa rõ lai lịch, đã xóa số điện thoại ngay sau khi mua) hỏi mua 3.000.000 đồng tiền ma túy, L đồng ý rồi mang ma túy đến gần nhà H1 bán cho H1. Sau khi mua được ma túy, H1 lấy một ít ma túy ra sử dụng một mình tại nhà H1. Số ma túy còn lại H1 cất giấu trong túi quần bên phải phía trước đang mặc trên người. Đến khoảng 13 giờ 55 phút ngày 22/5/2024, H1 điều khiển xe mô tô BKS: 43E1-668.50 đi uống cà phê, khi đi đến khu vực trước nhà số F đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, thì bị tổ tuần tra của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận S phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của H1 đang mặc có 01 gói ni lông kích thước 07x04cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng, H1 khai nhận là ma túy của mình cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ H1 cùng tang vật.

Tang vật tạm giữ: 01 gói ni lông kích thước 07x04cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy (đã niêm phong và ký hiệu là H); 01 điện thoại di động hiệu IPhone 11 màu vàng, số Imei: 354005101102607, sim số: 0931964972; 300.000 đồng tiền Việt Nam; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng, BKS: 43E1-668.50.

Vào lúc 16 giờ ngày 22/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ H1 tại nhà số D đường B, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng phát hiện và tạm giữ.

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm: nỏ thủy tinh, ông hút và bình nhựa).

- 05 vỏ bao ny lông, bên trong không chứa gì, đã qua sử dụng.

* Tại kết luận giám định số: 408, ngày 28/5/2024, của Phòng KTHS Công an T kết luận: Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 gói ni lông trong bì niêm phong kí hiệu H gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu H là: 4,737 gam.

Qua test nhanh cho kết quả Võ H1 dương tính với ma túy.

Bản cáo trạng số 96/CT-VKS - ST ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Võ H1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố; đồng thời đề nghị:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Võ H1 từ 03 năm đến 04 năm tù giam.

- Về hình phạt bổ sung: Không.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS; Tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số: 408/KL-KTHS, ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an T; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm: nỏ thủy tinh, ống hút và bình nhựa); 05 vỏ bao ny lông bên trong không chứa gì, đã qua sử dụng.

+ Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng, IMEI: 354005101102607, gắn sim: 0931964972, số trên sim 3064 WD của Võ H1.

+ Trả cho Võ H1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

+ Trả cho Võ H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng mang BKS: 43E1-668.50, số khung: RLHJA3926NY494610, số máy: JA39E2948260.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà là đúng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Bị cáo không có ý kiến bào chữa và tranh luận gì.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Võ H1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người chứng kiến cũng như các chứng cứ, tài liệu khác mà cơ quan điều tra đã thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 13 giờ 55 phút ngày 22/5/2024, tại khu vực trước nhà số F đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng, Võ H1 đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,737 gam ma túy loại Methamphetamine trong túi quần bên phải phía trước đang mặc trên người nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy, bản Cáo trạng số 96/CT-VKS - ST ngày 26 tháng 8 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án thì thấy: Ma túy hiện đang là tệ nạn của xã hội, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, lao động, học tập của con người và là nguyên nhân của các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức được các tác hại đó, nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, xem thường pháp luật và để thỏa mãn cho nhu cầu bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của nhà nước, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời còn xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe con người và lan tràn tệ nạn nghiện hút.

[4]. Xét hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy:

Bị cáo Võ H1 là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, ý thức được điều đó nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn rõ ràng, tỏ ra biết ăn năn hối cải; gia đình của bị cáo có công với cách mạng (có giấy chứng nhận: gia đình có hầm trú ẩn nuôi giấu cán bộ thoát ly từ tháng 1/1957 đến 12/1967) nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do không xác minh được tài sản riêng của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với 01 phong bì niêm phong số: 408/KL-KTHS, ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an T; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm: nỏ thủy tinh, ống hút và bình nhựa); 05 vỏ bao ny lông bên trong không chứa gì, đã qua sử dụng - Là tang vật nên cần tiêu hủy.

[6.2] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng, IMEI: 354005101102607, gắn sim: 0931964972, số trên sim 3064 WD - Là phương tiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

[6.3] Đối với số tiền 300.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng mang BKS: 43E1-668.50, số khung: RLHJA3926NY494610, số máy: JA39E2948260 của Võ Hiếu, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên đối với số tiền 300.000 đồng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

(Toàn bộ vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024).

[7] Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Võ H1, Công an quận S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng là phù hợp.

[8] Đối với ông Võ G (bố ruột của H1) là chủ nhà số D đường B, phường N, quận S, TP . không biết việc H1 tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S không đề cập xử lý là phù hợp.

[9] Đối với đối tượng L bán ma túy cho bị cáo Võ H1, S là người cho H1 ma túy, cả 02 hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch, do đó đề nghị Cơ quan CSĐT Công an quận S tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

[10] Án phí HS-ST: Bị cáo phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Võ H1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Võ H1 03 (Ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (22/5/2024).

2/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS; Tuyên:

2.1 Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số: 408/KL-KTHS, ngày 28/5/2024 của Phòng K Công an T; 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm: nỏ thủy tinh, ống hút và bình nhựa); 05 vỏ bao ny lông bên trong không chứa gì, đã qua sử dụng.

2.2 Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 màu vàng, IMEI: 354005101102607, gắn sim: 0931964972, số trên sim 3064 WD của Võ H1.

2.3 Trả cho Võ H1 số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) nhưng tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

2.4 Trả cho Võ H1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng mang BKS: 43E1-668.50, số khung: RLHJA3926NY494610, số máy: JA39E2948260.

(Toàn bộ vật chứng hiện nay do Chi cục Thi hành án quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024).

3/ Án phí HS-ST: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Võ H1 phải chịu 200.000 đồng.

Án xử công khai, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Sơn Trà;
  • - Công an quân Sơn Trà;
  • - Chi cục THADS quận Sơn Trà;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Đông Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 101/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Võ H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger