Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:101/2024/HSST

Ngày: 06/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, ông: Lò Xuân Hải.

  • Các hội thẩm nhân dân:

    • Ông: Nguyễn Xuân Định.

    • Bà: Đao Thị Loan - Nghề nghiệp: Cán bộ - Chức vụ, nơi công tác: Bí thư huyện đoàn, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

  • - Thư ký phiên tòa, bà: Dương Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tham gia phiên tòa, ông: Võ Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh L, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 101/2024/TL-ST-HS, ngày 07 tháng 08 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 103/2024/QĐXXST-HS, ngày 23 tháng 08 năm 2024, đối với bị cáo.

  • - Lỳ Phì L: Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 08/02/2007; tại: Xã M, huyện M, tỉnh L; Nơi thường trú, nơi ở hiện tại: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh L; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Hà Nhì; tôn giáo: Không; đảng, đoàn: Không; bố đẻ không xác định, bố dượng ông Vàng Văn T, sinh năm 1982 và con bà Lỳ Lóng X, sinh năm 1983; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/05/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện M, tỉnh L - Có mặt.

  • - Người đại diện cho bị cáo Lỳ Phì L, bà: Lỳ Lóng X, sinh năm 1983, là mẹ đẻ của bị cáo - Trú tại: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh L - Có mặt.

  • - Người bào chữa cho bị cáo Lỳ Phì L, bà: Nông Thị Minh H - Là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Địa chỉ: Tầng 1, Tòa nhà số 1, Trụ sở Hợp khối các đơn vị sự nghiệp tỉnh L - Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ, ngày 03/05/2024, Lỳ Phì L, một mình đi bộ từ bản T, xã M đến khu vực Nậm P thuộc bản P, xã M, huyện M, tỉnh L. để tìm mua Heroine đem về sử dụng, khi đi đến khu vực Nậm P thì L gặp một người đàn ông lạ mặt, qua trao đổi, L đưa cho người đàn ông này số tiền 300.000 đồng để nhờ mua hộ Heroine, sau đó L đứng đợi khoảng 15 phút thì người đàn ông quay lại và đưa cho L 01 gói Heroine, bên ngoài được gói bằng một mảnh nilon màu xanh, L và người đàn ông đi vào một ngôi nhà hoang gần đó, L mở gói Heroine dùng tay bẻ một ít Heroine để trả công cho người đàn ông, sau khi nhận lấy Heroine thì người đàn ông này bỏ đi, còn L lấy một ít Heroine ra sử dụng (hít). Số Heroine còn lại, L gói lại như cũ và dùng bật lửa đốt và xoắn một đầu rồi cho gói Heroine vào trong phần đầu nắp kim loại bật lửa ga cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người rồi đi bộ quay về nhà. Đến hồi 08 giờ 50 phút cùng ngày khi L đi đến địa phận bản T, xã M thì bị tổ công tác Công an xã M đang làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang cùng với tang vật là gói Heroine mà L đang cất giấu trên người, tổ công tác lập biên bản và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại kết luận giám định số: 41/KLGĐ-CA, ngày 03/05/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc Công an huyện M, kết luận: 01 gói chất bột khô, màu trắng thu giữ của Lỳ Phì L có khối lượng là 0,12 gam.

Tại bản kết luận giám định số: 521/GĐ-KTHS ngày 08/05/2024 của Phòng K1- Công an tỉnh L, kết luận: 01 Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lỳ Phì L, gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS-MT ngày 06 tháng 08 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố Lỳ Phì L về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý:

  • - Trách nhiệm hình sự đối với: Lỳ Phì L, về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

  • - Về hình phạt chính: Áp dụng Điều 91; Điều 98; Điều 101; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Phì L, từ: 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo là người dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự.

  • - Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu, vật chứng còn lại thu giữ của Lỳ Phì L.

  • +. Đối với 0,12 gam Heroine. Quá trình điều tra, Công an huyện M, tỉnh L đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định. Do vậy không xem xét giải quyết.

  • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện cho bị cáo Lỳ Phì L, bà: Lỳ Lóng X, sinh năm 1983, là mẹ đẻ của bị cáo - Trú tại: Bản T, xã M, huyện M, tỉnh L. Không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích tính chất, hành vi, mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo, người bào chữa đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện M về tội danh "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo; đề nghị áp dụng chương XII các Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo mức án thấp nhất, bị cáo không có ý kiến gì bổ sung, đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa việc bị cáo khai báo là hoàn toàn tự nguyện, không bị mớm cung, ép cung, bị cáo không khiếu nại gì về quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Sau khi tranh luận Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên mức hình phạt chính như đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập có trong hồ sơ vụ án như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 08 giờ 50 phút ngày 03/05/2024 tại khu vực bản T, xã M, huyện M, tỉnh L, Lỳ Phì L đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng là 0,12 gam để sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã M, huyện M phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện M đã truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, bị cáo không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.

[2]. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo hiểu được điều đó nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và gia đình. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo Lỳ Phì L luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số Hà Nhì, nhận thức pháp luật còn hạn chế, sinh sống ở bản T, xã M, huyện M là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét áp dụng cho bị cáo.

[4]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lỳ Phì L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về nhân thân bị cáo Lỳ Phì L có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, từ nhỏ được bố mẹ nuôi cho ăn học hết lớp 06/12, lớn lên ở nhà làm nghề lao động tự do tại địa phương, nhận thức pháp luật hạn chế, là người sử dụng chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi. Bị cáo nhận thức rõ được hành vi tàng trữ chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân nên đã cố ý phạm tội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 triệu đồng, xét thấy: Bị cáo là người dưới 18 tuổi khi thực hiện hành vi phạm tội, căn cứ khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[7]. Vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu, vật chứng còn lại thu giữ của Lỳ Phì L.

- Đối với 0,12 gam Heroine. Quá trình điều tra, Công an huyện M, tỉnh L đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm, xét thấy: Bị cáo là người dân tộc thiểu số Hà Nhì, thường xuyên sử dụng chất ma túy, nghề nghiệp lao động tự do, gia đình là hộ nghèo sinh sống ở xã M, huyện M, tỉnh L là xã biên giới có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật cho bị cáo.

[9]. Từ những phân tích như trên, Hội đồng xét xử có cơ sở khách quan và căn cứ pháp lý để kết luận: Bị cáo Lỳ Phì L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; do vậy ý kiến của Kiểm sát viên và của người bào chữa tại phiên tòa về: Tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 52 của Bộ luật hình sự; xử lý vật chứng; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự; miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo; bị cáo là người dưới 18 tuổi nên được áp dụng các Điều 91, 98, 101 quy định tại chương XII Bộ luật hình sự. Là có cơ sở đúng quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10]. Đối với người đàn ông lạ mặt đã mua hộ Heroine với giá 300.000 đồng cho bị cáo Lỳ Phì L. Trong qúa trình điều tra không xác định được lai lịch của người đàn ông này nên không đủ căn cứ để xử lý. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  • - Tuyên bố bị cáo: Lỳ Phì L phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

  • - Căn cứ vào Điều 91; Điều 98; Điều 101; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lỳ Phì L: 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam là ngày 03/05/2024.

  • - Về hình phạt bổ sung. Áp dụng khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Lỳ Phì L.

  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu xanh; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 phong bì do bưu điện phát hành đã bị cắt một đầu, vật chứng còn lại thu giữ của Lỳ Phì L.

  • - Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lỳ Phì L.

  • - Về quyền kháng cáo: Theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Lai Châu;

  • - VKSND tỉnh Lai Châu;

  • - VKSND huyện M.Tè;

  • - Công an huyện M.Tè;

  • - Cơ quan THAHS Công an huyện M.Tè;

  • - Trại giam;

  • - Chi cục THADS huyện M.Tè;

  • - Bị cáo;

  • - Người bào chữa;

  • - Người đại diện cho bị cáo;

  • - Lưu hồ sơ VA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lò Xuân Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2024/HSST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 101/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lỳ Phì L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger