TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2024/DS-ST
Ngày 06/8/2024
“V/v Tranh chấp về dân sự-
Hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bùi Thị Hoàng
- Ông Nguyễn Phú Hữu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 18/7 và ngày 06/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2024/TLST-DS ngày 13/3/2024, về việc “Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2024/QĐXXST-DS ngày 01/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 228/2024/QĐST-DS ngày 18/7/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Huỳnh C (N), Sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Tổ D, khóm E, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Hồ Văn T, sinh năm 1970.
Địa chỉ: Tổ B, ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (văn bản ủy quyền ngày 27/11/2023).
Bị đơn:
1/ Nguyễn Lâm Thanh H, Sinh năm: 1977.
Địa chỉ: Số A, đường C, tổ A, khóm A, phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2/ Nguyễn Thị Bạch T1, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số B, tổ E, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Ông T có mặt tại phiên tòa, ông H và bà T1 vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hồ Văn T trình bày:
Ông C (N) và ông H cùng vợ bà T1 là chỗ quen biết, vào ngày 24/8/2020 ông H và bà T1 có mượn 70.000.000 đồng của ông C, có làm biên nhận ghi tên N (tên thường gọi của ông Trần Huỳnh C), lãi suất thỏa thuận miệng 3%/tháng nhưng trên biên nhận chỉ ghi lãi suất thỏa thuận, thời hạn trả 06 tháng thỏa thuận miệng. Mục đích vay tiêu dùng. Đến ngày 02/02/2021 đúng hạn trả vốn và lãi, ông C có đến nhà gặp vợ chồng ông H và bà T1 yêu cầu trả số tiền vốn và lãi, mà ông bà hẹn lần lượt, đã quá thời hạn thanh toán ông H, bà T1 không trả số tiền vốn và lãi thỏa thuận nêu trên. Nay ông C (N) làm đơn yêu cầu ông H và bà T1 trả số tiền vốn 70.000.000 đồng và tính lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng, thời gian tính lãi từ ngày 24/8/2020 đến 24/11/2023 (39 tháng) là 45.318.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 115.318.000 đồng, yêu cầu tiếp tục tính lãi 1,66% đến khi kết thúc vụ kiện.
Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hồ Văn T trình bày: Theo biên nhận vay tiền ngày 24/8/2020, do ông Hữu t ghi nội dung ông H và bà T1 là vợ chồng, ông C không biết mối quan hệ giữa ông H và bà T1 có phải là vợ chồng hay không, nội dung trong đơn khởi kiện ghi mối quan hệ vợ chồng là ghi theo biên nhận, không yêu cầu giải quyết về phần mối quan hệ của bà T1 và ông H có phải vợ chồng hay không. Về lãi suất theo biên nhận là hai bên thỏa thuận, lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng nhưng ông C yêu cầu lãi suất theo quy định pháp luật 1,66%/tháng từ khi vay cho đến ngày xét xử.
Nay ông Trần Huỳnh C (N) yêu cầu ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 trả số tiền vốn 70.000.000 đồng và tiền lãi tính lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng, thời gian từ ngày 24/8/2020 đến 24/7/2024 (47 tháng, tính tròn bỏ ngày lẽ) là 54.614.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 124.614.000 đồng. Đối với tiền lãi tính từ ngày 25/7/2024 đến ngày 06/8/2024 ông C không yêu cầu, chỉ yêu cầu tiếp tục tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày từ ngày xét xử đến khi ông H và bà T1 trả xong nợ. Số tiền 70.000.000 đồng của ông C (N) cho vợ chồng ông H và bà T1 vay là của cá nhân ông C. Ngoài ra ông C không còn yêu cầu khác.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thông báo nội dung yêu cầu và trình bày của nguyên đơn nhưng ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 không có ý kiến về nội dung vụ án, vắng mặt tại phiên họp, hòa giải và tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa các bên là “Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2]. Về thẩm quyền giải quyết, xét thấy: Địa chỉ của bị đơn tại thành phố C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào khoản 2, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[4]. Về nội dung: Ông Trần Huỳnh C (N) yêu cầu ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 trả số tiền vốn 70.000.000 đồng và tiền lãi tính lãi theo mức lãi suất 1,66%/tháng, thời gian từ ngày 24/8/2020 đến 24/7/2024 (47 tháng, tính tròn) là 54.614.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 124.614.000 đồng. Đối với tiền lãi tính từ ngày 25/7/2024 đến ngày 05/8/2024 ông C không yêu cầu, chỉ yêu cầu tiếp tục tính lãi theo quy định pháp luật từ ngày từ ngày xét xử đến khi ông H và bà T1 trả xong nợ.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo biên nhận ngày 24/8/2020, ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 có vay của Trần Huỳnh C (N) số tiền 70.000.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận. Ông C trình bày, thời hạn trả 06 tháng thỏa thuận miệng, Mục đích vay tiêu dùng, đến ngày 02/02/2021 đúng hạn trả vốn và lãi. Ông C có đến nhà gặp ông H và bà T1 yêu cầu trả số tiền vốn và lãi nhưng ông bà hẹn lần lượt, đã quá thời hạn thanh toán ông H và bà T1 không trả số tiền trên là vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Đối với số tiền lãi suất theo ông cho rằng lãi suất thỏa thuận miệng là 3%/tháng nhưng từ ngày vay đến nay ông H và bà T1 chưa trả lãi suất nên ông C yêu cầu theo quy định pháp luật 1,66%/tháng, từ ngày vay 24/8/2020 đến ngày 24/7/2024 (tính tròn 47 tháng), số tiền lãi 54.614.000 đồng là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật. Đối với nội dung biên nhận do ông Nguyễn Lâm Thanh H tự ghi nội dung ông H và bà T1 là vợ chồng, ông C không biết mối quan hệ giữa ông H và bà T1 có phải là vợ chồng hay không, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng, thông báo nội dung trình bày và yêu cầu của ông Trần Huỳnh C (N), đồng thời có thông báo công khai chứng cứ cho ông H và bà T1 nhưng ông H và bà T1 không có ý kiến về nội dung vụ án, vắng mặt tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và vắng mặt tại phiên Tòa lần thứ hai không có lý do.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của ông Trần Huỳnh C (N) là có căn cứ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, phù hợp với Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm"; nên chấp nhận.
[5]. Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 có nghĩa vụ trả cho Ông Trần Huỳnh C (N) số tiền 124.614.000 đồng, nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 6.230.700 đồng.
Ông Trần Huỳnh C (N) không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.883.000 đồng theo biên lai thu số 0000429 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm"; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Huỳnh C (N). Yêu cầu ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 trả cho Ông Trần Huỳnh C (N) số tiền nợ gốc 70.000.000 đồng, số tiền lãi 54.614.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi 124.614.000 đồng.
- Buộc ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 trả cho Ông Trần Huỳnh C (N) số tiền tiền nợ gốc 70.000.000 đồng, số tiền lãi 54.614.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi 124.614.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất pháp luật quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Lâm Thanh H và bà Nguyễn Thị Bạch T1 phải chịu 6.230.700 đồng.
Ông Trần Huỳnh C (N) được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.883.000 đồng theo biên lai thu số 0000429 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Tuyết Nga |
Bản án số 101/2024/DS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về dân sự - hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 101/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về dân sự - Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
