Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2023/HS-ST

Ngày: 04-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phong Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Dương Thanh Phương;
  2. Ông Đoàn Văn Phồi.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn B (tên gọi khác: Không), sinh ngày 03 tháng 8 năm 1992, tại tỉnh Kiên Giang;

- Địa chỉ thường trú: Ấp N, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang;

- Địa chỉ tạm trú: Khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang;

- Nghề nghiệp: Làm thuê;

- Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12;

- Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

- Con ông Trần Văn K và bà Trần Thị G;

- Bị cáo có vợ và 02 con;

- Tiền án: Không có;

- Tiền sự: Không có;

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh;

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968; (đã chết)

Địa chỉ: Ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang;

Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn B được Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp giấy phép lái xe hạng A1, số [...] ngày 26 tháng 9 năm 2014, có giá trị không xác định thời hạn.

Ngày 28/4/2023, ông Nguyễn Văn H điều khiển xe đạp đi trên tuyến tránh C để nhặt phế liệu. Khoảng 17 giờ cùng ngày, ông H điều khiển xe đạp đi đến đoạn thuộc ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Lúc này, ông H đậu xe và đứng cạnh xe đạp của mình trên làn đường sát lề phải tuyến tránh C, theo hướng từ thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang đi xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, để cho phế liệu mà ông H vừa nhặt được vào túi ni lông được treo trên xe đạp. Lúc này, Trần Văn B điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát số 63B2 – 423.18 lưu thông trên tuyến tránh C và cùng chiều đi với ông H từ sau chạy đến rối va chạm vào ông H và xe đạp gây ra tai nạn. Sau đó, ông H được đưa đi cấp cứu và tử vong tại Bệnh viện đa khoa tỉnh T lúc 22 giờ 30 phút cùng ngày. Trần Văn B bị thương, xe mô tô biển kiểm soát 63B2 – 423.18 và xe đạp bị hư hỏng.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu tại Bệnh viện Đ đối với Trần Văn B tại Bệnh viện Đ lúc 19 giờ 26 phút ngày 28/4/2023 là 0.18mg/100ml máu (0.04mmol/L). Nồng độ này được xem là không có sử dụng rượu bia.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong máu tại Bệnh viện Đ đối với Nguyễn Văn H tại Bệnh viện Đ lúc 17 giờ 48 phút ngày 28/4/2023 là 3.69mg/100ml máu (0.80mmol/L).

Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 133/KLGĐTT-TTPY ngày 29/4/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Văn H như sau: Tụ máu dưới da đầu vùng đỉnh chẩm; Tụ máu dưới da đầu vùng trán trái; Tụ máu cơ thái dương phải; Dập não trán 2 bên, thái dương phải; Xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện toàn bộ bán cầu phải; Xuất huyết dưới nhện bán cầu trái; Xuất huyết 2 bán cầu tiểu não; Xuất huyết hành não, cầu não; Vỡ xương đá bên phải đến đỉnh chẩm phải. Kết luận nguyên nhân tử vong: Chấn thương sọ não kín do xuất huyết dưới màng cứng, dưới nhện. Xuất huyết thân não. Vỡ sàng sọ do tai nạn giao thông.

Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ do Phòng C Công an tỉnh T lập vào lúc 20 giờ 00 phút ngày 28/4/2023, hiện trường được xác

định như sau: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thuộc ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Nơi đây là đoạn đường thẳng, bằng phẳng, được trãi nhựa, đường được phân chia bởi vạch sơn đứt quản màu vàng thành 2 phần đường dành cho 2 chiều xe chạy riêng biệt; phần đường theo hướng từ M đi T rộng 4,7 mét có vạch sơn liền nét màu trắng phân chia thành hai làn đường gồm: làn đường sát lề phải dành cho xe mô tô, xe máy và xe thô sơ lưu thông rộng 1,2 mét; làn đường phía ngoài dành cho xe ô tô và xe mô tô lưu thông rộng 3,5 mét. Quan sát hiện trường xác định giới hạn phần mặt lộ có hướng M đi T là hiện trường xảy ra vụ việc. Ở chiều đường này được chia thành 02 làn đường bởi vạch sơn liền màu trắng, làn trong cùng dành cho xe mô tô, xe máy và xe thô sơ rộng 1,2 mét, làn ngoài dành cho xe ô tô và xe mô tô rộng 3,5 mét. Vị trí điểm va chạm cách mép đường bên phải là 1,1 mét.

Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông ngày 28/4/2023 của Phòng C Công an tỉnh T xác định như sau:

- Đối với xe đạp:

+ Vỏ xe bị cong lệch.

+ Gãy chân chống sau bên trái bị cong lệch, mài mòn về phía trước.

+ Đầu ngoài phía sau gác chân bên trái bị mài mòn, có bám dính chất sơn màu vàng.

- Đối với xe mô tô mang biển kiểm soát số 63B2-423.18:

+ Ốp trước đầu đèn lái bị bung hở, mặt ngoài phía trước hộp đầu tay thắng có vết trầy xước, có kích thước (dài 3cm x rộng 0,5cm).

+ Bửng bên phải có toàn bộ mặt ngoài có vết ma sát, mài mòn, chân bửng bị bể vỡ, thủy trở, có kích thước (dài 8cm x rộng 17cm).

+ Mặt ngoài gác chân sau bên phải có vết ma sát, mài mòn.

+ Mặt ngoài vĩ che ống xả có vết ma sát, mài mòn, nứt vỡ, có kích thước (dài 20cm x rộng 9cm).

+ Cạnh ngoài bệ gác chân trước bên phải có vết ma sát, mài mòn, có kích thước (dài 28cm x rộng 3cm); miếng kim loại gắn trên bệ bị cong vênh.

* Vật chứng thu giữ được bao gồm:

  • 01 (một) xe mô tô mang biển kiểm soát số 63B2-423.18 cùng 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô mang biển kiểm soát số 63B2-423.18.
  • 01 (một) giấy phép lái xe A1 tên Trần Văn B, số H.
  • 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Trần Văn B.
  • 01 (một) xe đạp màu trắng, có bội xe và yên xe màu đen.
  • 01 (một) đĩa DVD chứa đoạn dữ liệu camera ghi lại hình ảnh diễn biến vụ tai nạn (do Trương Thị Thu T1, sinh năm 1989, đăng ký thường trú: khu phố B, Phường E, thị xã C, tỉnh Tiền Giang giao nộp).

* Về xử lý vật chứng của cơ quan điều tra: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng số 36/QĐ-ĐTTH ngày 20/6/2023 trao trả:

  • 01 (một) giấy chứng minh tên Trần Văn B cho Trần Văn B.
  • 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 63B2-423.18 cùng 01 (một) giấy đăng ký xe này cho chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992, đăng ký thường trú: khu phố B, thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • 01 (một) xe đạp màu trắng, có bội xe và yên xe màu đen cho ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1976, đăng ký thường trú: ấp Q, xã N, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

* Về trách nhiệm dân sự: Ông T là em ruột ông Nguyễn Văn H không yêu cầu định giá thiệt hại chiếc xe đạp. Trần Văn B đã thỏa thuận bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho phía gia đình nạn nhân số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Ông Nguyễn Văn T là em ruột và là người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn H đã nhận đủ số tiền trên và làm đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự cho Trần Văn B.

* Cáo trạng số 91/CT-VKSTXCL ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Trần Văn B để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

* Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố, trình bày tranh luận và luận tội:

- Giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Văn B;

- Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

. Áp dụng Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 260; Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trần Văn B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;

+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

. Trả lại cho bị cáo Trần Văn B 01 (một) giấy phép lái xe A1 tên Trần Văn B, số [...];

+ Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường, có đơn xin bãi nại trách nhiệm dân sự và không có yêu cầu gì khác.

2. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo đúng như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố. Đồng thời, bị cáo không có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng;

3. Ý kiến tranh luận của bị cáo: Không có ý kiến đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

4. Ý kiến tranh luận của người đại diện hợp pháp của bị hại: Không có ý kiến đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Không yêu cầu bồi thường gì khác và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

5. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, hối hận về hành vi của mình. Xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất để sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên - Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát Điều tra và Viện kiểm sát thu thập là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Như vậy, hành vi và quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay cho thấy: Khoảng 17 giờ ngày 28/4/2023 trên tuyến tránh thị xã C, đoạn thuộc ấp T, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang, Trần Văn B đã có hành vi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát số 63B2-423.18 nhưng thiếu chú ý quan sát, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp có chướng ngại vật trên đường nên đã xảy ra tai nạn giao thông. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn H tử vong.

[2.2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai của những người liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn B với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở, đúng với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến an ninh trật tự công cộng và an toàn giao thông, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác hậu quả làm 01 người chết. Hiện nay, tình hình tai nạn giao thông đang là vấn đề toàn xã hội quan tâm, nguyên nhân chủ yếu của tình hình tai nạn giao thông gia tăng đó là người tham gia giao thông không chấp hành nghiêm chỉnh Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp

luật và có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, cải tạo bị cáo và đồng thời mang tính răn đe, phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để lượng hình tương xứng.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Văn B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại nên cần được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Ngoài ra, ông Nguyễn Văn T là người đại diện theo pháp luật của bị hại Nguyễn Văn H có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2.5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[2.6] Về đặc điểm nhân thân:

- Bị cáo không có tiền án, tiền sự;

- Bị cáo có vợ và 02 con còn nhỏ, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2019. Bị cáo là lao động chính trong gia đình.

[2.7] Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Bị cáo Trần Văn B có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng và đây là lần đầu tiên bị cáo phạm tội.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có đủ các điều kiện để được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo tự cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T là đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn H đã nhận số tiền bồi thường 50.000.000 đồng và không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Xử lý vật chứng:

- Các vật chứng mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã ra quyết định xử lý là phù hợp theo quy định pháp luật, không có ai có ý kiến gì về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét;

. Đối với 01 (một) giấy phép lái xe A1 tên Trần Văn B, số H thì trả lại cho bị cáo Trần Văn B.

Vật chứng hiện do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/11/2023.

. Đối với 01 (một) đĩa DVD chứa đoạn dữ liệu camera ghi lại hình ảnh diễn biến vụ tai nạn (do Trương Thị Thu T1, sinh năm 1989, đăng ký thường trú: khu phố B, Phường E, thị xã C giao nộp) thì cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là phù hợp một phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

[6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[7] Bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điều 32, 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 và điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Điều 106, 135, 136, 290, 292, 299, 326, 327, 331, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
  • Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

[1.1] Xử phạt bị cáo Trần Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Văn B cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình của bị cáo Trần Văn B có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Tiền Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

[1.2] Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Trần Văn B 01 (một) giấy phép lái xe A1 tên Trần Văn B, số H;

Vật chứng hiện đang do cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 23/11/2023.

- Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ đối với 01 (một) đĩa DVD chứa đoạn dữ liệu camera ghi lại hình ảnh diễn biến vụ tai nạn (do Trương Thị Thu T1, sinh năm 1989, đăng ký thường trú: khu phố B, Phường E, thị xã C giao nộp).

3. Về án phí: Bị cáo Trần Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn B và ông Nguyễn Văn T là người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Tiền Giang;
  • VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • VKSND thị xã Cai Lậy;
  • Chi cục THADS thị xã Cai Lậy;
  • Công an thị xã Cai Lậy;
  • UBND thị trấn Bình Phú, huyện Cai Lậy;
  • Người tham gia tố tụng;
  • Lưu: Hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Phong Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2023/HS-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 101/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Trần Văn B để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger