Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2025/HSST

Ngày: 25/3/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lưu Triều.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Toàn
  2. Ông Nguyễn Trung Lưu

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thái Hà - Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Phan Thiết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Phan Thiết: Ông Chu Đức Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 288/2024/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Trọng L, tên gọi khác: không, Giới tính: Nam, sinh năm 1994, tại Bình Thuận, Nơi thường trú và chỗ ở: khu phố H, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, Dân tộc: Kinh, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: không, Trình độ học vấn: 6/12, Nghề nghiệp: không, Cha: Nguyễn Trọng S, sinh năm 1972, Mẹ: Huỳnh Thị Phương D, sinh năm 1976, Anh chị em ruột: có 04 người, bị can là con lớn nhất trong gia đình, Vợ: Trần Thị Thùy T, sinh năm 1995 (chưa đăng ký kết hôn), Con: bị cáo có 01 người con sinh năm 2016

Tiền án: Ngày 25/7/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2024, chưa được xóa án tích.

Tiền sự: không

- Nhân thân:

  • + Ngày 03/9/2019, bị Chủ tịch UBND phường Đ ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trong thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 243/UBND kể từ ngày 03/9/2019.
  • + Ngày 01/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, trong thời hạn 12 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 44/2020/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 16/8/2021.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 27/6/2024, chuyển tạm giam ngày 06/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh B.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Theo cáo trạng, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 25/6/2024, Nguyễn Trọng L đang ở nhà tại khu phố H phường Đ, thành phố P thì có một người bạn ngoài xã hội tên H (không rõ nhân thân) đến nhà L để nhờ L sửa xe. Do có nhu cầu sử dụng ma túy và không có điện thoại nên L mượn điện thoại của H lắp sim số 0833.077.390 của L vào điện thoại của H rồi đăng nhập vào ứng dụng intagram, sau đó gọi đến tài khoản của “Đình Tiển” để hỏi mua ma túy 60 (sáu mươi) số ma túy loại Ketamine (khoảng 60 gam) và 70 (Bảy mươi) viên thuốc lắc, L đề nghị “Đình Tiển” cho L nợ tiền sẽ trả sau thì “Đình Tiển” đồng ý và báo giá 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng), hẹn sẽ cho người tới giao cho L sau. Sau khi liên hệ với “Đình Tiển” xong thì L đã xóa nội dung liên hệ, rồi đăng xuất tài khoản intagram, tháo sim ra và trả điện thoại lại cho H. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, L đi ra khu vực trước Trường tiểu học Đ gần Công viên “Cổng chữ Y” gặp một người quen ngoài xã hội (không rõ nhân thân) hỏi mua 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ma túy đá, người này đồng ý. L đưa cho người này 300.000 đồng và nhận lại gói ma túy đá đựng trong gói nylon không màu, có khóa kéo một đầu. Sau khi mua được ma túy, L đem về nhà tại khu phố H, phường Đ cất trong hộp đựng bông ngoáy tai để trong phòng ngủ để sử dụng dần.

Đến khoảng 21 giờ ngày 26/6/2024, khi L đang ở nhà thì có một người đàn ông (không rõ nhân thân) đi xe máy hiệu Exciter (không rõ biển số) tới trước cửa nhà L gọi cửa, L đi ra thì người này đưa cho L một bịch nylon màu đen, L mở ra thì thấy một bịch chứa ma túy thuốc lắc và một bịch nylon chứa ma túy Ketamine thì L biết là ma túy mà Đình T1 bán cho L. Sau khi kiểm tra, Lâm đếm được 70 (Bảy mươi) viên thuốc lắc, L lấy 02 (hai) viên ra để riêng để chuẩn bị sử dụng. Sau đó L chia 68 (sáu tám) viên thuốc lắc còn lại thành 02 (hai) gói nhỏ, một gói chứa 32 (ba mươi hai) viên, một gói chứa 36 (ba mươi sáu viên). Đối với số ma túy Ketamine, L lấy một ít ra để riêng để chuẩn bị sử dụng, số Ketamine còn lại L chia ra thành 05 (năm) gói gồm: 04 (bốn) gói nhỏ và 01 (một) gói lớn. Sau khi chia ma túy xong L bỏ số ma túy thuốc lắc và Ketamine vào túi xách màu xám của L rồi cất trên bàn học trong phòng khách nhà L, còn 02 (hai) viên thuốc lắc và một ít K lấy ra trước đó L bỏ vào dĩa sứ màu trằng trong phòng ngủ của L và sử dụng một mình.

Đến khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 27/6/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an thành phố P phối hợp với Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Nguyễn Trọng L thì phát hiện L đang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên đã lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật liên quan đưa L về trụ sở Công an phường Đ để làm việc.

Quá trình điều tra, Nguyễn Trọng L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên, L khai mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng, không bán lại cho người khác.

Vật chứng thu giữ:

Nguyễn Trọng L lấy trên bàn học ở phòng khách nhà L ra 01 chiếc túi xách đeo chéo, màu xám, bên trong có:

  • + 01 (một) gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước khoảng (04x7,5)cm, bên trong có chứa 36 (Ba mươi sáu) viên nén màu xanh, có hình răng cưa, mặt viên nén có hình vương miện (L khai nhận đây là ma túy thuốc lắc L tàng trữ để sử dụng dần, ký hiệu M1 khi giám định);
  • + 01 (một) gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước khoảng (04x7,5)cm, bên trong có chứa 32 (Ba mươi hai) viên nén màu xanh, có hình răng cưa, mặt viên nén có hình vương miện (L khai nhận đây là ma túy thuốc lắc L tàng trữ để sử dụng dần, ký hiệu M2 khi giám định);
  • + 05 (năm) gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo gồm: 01 gói kích thước khoảng (10x17)cm và 04 gói có kích thước mỗi gói khoảng (04x7,5)cm, bên trong mỗi gói đều chứa nhiều tinh thể màu trắng (L khai nhận đây là ma túy loại Ketamine Lâm tàng trữ để sử dụng dần, ký hiệu M3 khi giám định);
  • + 02 (hai) cân điện tử gồm 01 cân lớn và 01 cân nhỏ;
  • - Nguyễn Trọng L đến phòng ngủ của L lấy 01 hộp nhựa (loại hộp đựng bông ngoáy tai) để trên bàn ra giao nộp: 01 (một) gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước khoảng (04 x 7,5) cm bên trong có chứa tinh thể màu màu trắng (L khai nhận đây là ma túy đá L tàng trữ để sử dụng dần, ký hiệu M4 khi giám định);
  • - Thu giữ trong phòng ngủ của L: 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế gồm: một chai nhựa không màu, có nắp màu đỏ, bên trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng, một lỗ được gắn ống thủy tinh uốn cong và thổi phồng một đầu (L khai nhận đây là bộ D1 L dùng để sử dụng ma túy đá);
  • - Thu giữ dưới tủ trong phòng ngủ của L: 01 (một) dĩa sứ màu trắng, bên trên có: một ít chất bột màu trắng, 01 (một) thẻ nhựa (một mặt màu đen, một mặt màu trắng), 01 (một) ống hút được làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (L khai nhận đây là các dụng cụ và ketamine L chưa sử dụng hết, L đồng ý để lực lượng Công an cạo chất bột màu trắng trong dĩa bỏ vào 01 (một) gói nylon không màu, một đầu có khóa nhựa kéo, kích thước khoảng (04 x 7,5)cm để tiến hành niêm phong, ký hiệu M5 khi giám định);
  • - Thu giữ trong túi quần phía trước, bên trái của L: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA loại bàn phím bấm, vỏ màu tím, bên trong có gắn sim số 0833077390.

Tại Bản kết luận giám định số 754/KL-KTHS ngày 05/7/2024 của phòng K2 - Công an tỉnh B kết luận:

  • - Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 14,6851, gam là MDMA;
  • - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 13,0847, gam là MDMA;
  • - Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 55,3391, gam là Ketamine;
  • - Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 0,8807, gam là Methamphetamine;
  • - Mẫu M5 gửi giám định có khối lượng 0,0275, gam là Ketamine.

Tổng cộng L đã tàng trữ 27,7698 gam là MDMA; 55,3666 gam là Ketamine; 0,8807 gam là Methamphetamine.

Xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 (năm) phong bì niêm phong số: 754/1, 754/2, 754/3, 754/4, 754/5 của Phòng K2 - Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B; 01 (một) túi xách màu xám loại túi đeo chéo; 02 (hai) cân điện tử gồm 01 cân lớn và 01 cân nhỏ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: một chai nhựa không màu, có nắp màu đỏ, bên trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng, một lỗ được gắn ống thủy tinh uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 (một) dĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa (một mặt màu đen, một mặt màu trắng) trên thẻ có dòng chữ SRWATCH; 01(một) sim điện thoại số 0833.077.xxx; 01 (một) ống hút được làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết đã ra Quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết bảo quản chờ xử lý.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu NOKIA loại bàn phím bấm, vỏ màu tím, quá trình điều tra xác định điện thoại hiệu N1 không liên quan đến hoạt động phạm tội của Nguyễn Trọng L nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố P đã ra Quyết định xử lý đồ vật tài liệu trả lại cho L.

Cáo trạng số 289/CT-VKS ngày 14 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố bị cáo Trần Văn H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, giữ quyền công tố đã luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Trong L1 từ 12 năm đến 13 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 (năm) phong bì niêm phong số: 754/1, 754/2, 754/3, 754/4, 754/5 của Phòng K2 - Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B, 01 túi xách màu xám loại túi đeo chéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: một chai nhựa không màu, có nắp màu đỏ, bên trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng, một lỗ được gắn ống thủy tinh uốn cong và thổi phồng một đầu, 01 dĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa (một mặt màu đen, một mặt màu trắng) trên thẻ có dòng chữ SRWATCH;
  • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 sim điện thoại số 0833.077.xxx, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 02 cân điện tử gồm 01 cân lớn và 01 cân nhỏ.

Nói lời sau cùng: Bị cáo xác định cáo trạng truy tố là đúng, không oan, nên không tranh luận gì, thống nhất với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sựQuá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo và xuất trình các chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 27/6/2024, Nguyễn Trọng L có hành vi Tàng trữ trái phép 27,7698 gam MDMA, 55,3666 gam Ketamine và 0,8807 gam Methamphetamine tại nhà thuộc khu phố H, phường Đ, thành phố P nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Căn cứ hướng dẫn tại Nghị định số 19 ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự, xác định:

Nguyễn Trọng L tàng trữ 27,7698 gam MDMA, 0,8807 gam Methamphetamine (tổng cộng 28,6505 gam) thuộc trường hợp quy định tại điểm điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tàng trữ 55,3666 gam Ketamine thuộc trường hợp quy định tại điểm l khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì tổng khối lượng của MDMA, Methamphetamine và khối lượng của Ketamine do L tàng trữ đều dưới mức tối thiểu đối với từng chất đó theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự, vì vậy sẽ áp dụng quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 5 của Nghị định số 19/2018/NĐ-CP để tính tổng khối lượng của cả hai chất ma túy như sau:

  • + Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA, Methamphetamine so với mức tối thiểu được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 95,5% (28,6505 gam so với 30 gam).
  • + Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của K1 so với mức tối thiểu được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 55,4% (55,3666 gam so với 100 gam).

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập theo quy định của pháp luật có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời kết luận của đại diện Viện kiểm sát. Do vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của MDMA, Methamphetamine và Kentamine trên so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự là: 95,5% + 55,4% = 150,9%, tức trên mức 100%. Như vậy, so với mức tối thiểu của khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự là 47,1% nên nên tổng khối lượng của các chất ma túy MDMA, Methamphetamine và K1 mà Nguyễn Trọng L tàng trữ trái phép đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi và hậu quả thấy rằng: Hiện nay trên địa bàn thành phố P, cũng như trên toàn quốc nói chung, tình trạng mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra khá phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, vi phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, làm gia tăng tệ nạn nghiện ma túy và cũng làm phát sinh nhiều tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã làm cho nhân dân hoang mang, lo sợ. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử lý về hành vi tàng trử và sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Ngày 25/7/2022, Nguyễn Trọng L bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/01/2024, chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của L thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét phần hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Xét về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 (năm) phong bì niêm phong số: 754/1, 754/2, 754/3, 754/4, 754/5 của Phòng K2 - Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B; 01 (một) túi xách màu xám loại túi đeo chéo; 02 (hai) cân điện tử gồm 01 cân lớn và 01 cân nhỏ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: một chai nhựa không màu, có nắp màu đỏ, bên trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng, một lỗ được gắn ống thủy tinh uốn cong và thổi phồng một đầu; 01 (một) dĩa sứ màu trắng; 01 (một) thẻ nhựa (một mặt màu đen, một mặt màu trắng) trên thẻ có dòng chữ SRWATCH; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) sim điện thoại số 0833.077.xxx; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

[7] Xét đối tượng có liên quan: Đối với đối tượng có tài khoản Intagram “Đình Tiển” mà L khai nhận liên hệ mua ma túy vào ngày 26/6/2024, quá trình điều tra xác định được đối tượng có đặc điểm và nhân thân như L đã khai là Nguyễn Đình T2 (sinh năm 1997, HKTT: khu phố G, phường Đ, thành phố P, tỉnh Bình Thuận), cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành triệu tập đối với T2 để làm rõ về hành vi như L khai. Tuy nhiên, hiện tại T2 không có mặt tại địa phương nên nên cơ quan CSĐT - Công an thành phố P đã ra quyết định truy tìm đối với T2 để xác minh xử lý sau.

[8] Xét về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ vào điểm h khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
  2. Xử phạt: Nguyễn Trọng L 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/6/2024.

  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, được niêm phong trong 05 (năm) phong bì niêm phong số: 754/1, 754/2, 754/3, 754/4, 754/5 của Phòng K2 - Công an tỉnh B, trên phong bì có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K2 - Công an tỉnh B, 01 túi xách màu xám loại túi đeo chéo, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá tự chế gồm: một chai nhựa không màu, có nắp màu đỏ, bên trên nắp được đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu trắng, một lỗ được gắn ống thủy tinh uốn cong và thổi phồng một đầu, 01 dĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa (một mặt màu đen, một mặt màu trắng) trên thẻ có dòng chữ SRWATCH;
    • Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 sim điện thoại số 0833.077.xxx; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 02 cân điện tử gồm 01 cân lớn và 01 cân nhỏ.

    (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 60 ngày 06/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết và Giấy nộp tiền vào tài khoản số [...] ngày 06/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Thiết).

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 3; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/3/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Phan Thiết;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Thi hành án thành phố Phan Thiết;
  • - Lưu hồ sơ.

TM – HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa

Nguyễn Lưu Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 101/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger