Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 101/2025/HSST

Ngày: 28/05/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các Hội thẩm: Bà Nguyễn Thị Thuy

Bà Ngô Thuỳ Linh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 05 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2025/TLST- HS ngày 08 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo:

LÊ THỊ H, sinh năm: 1979, tại: Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: K, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Ngọc L (c); Con bà: Đinh Thị O (c); Chồng: Nguyễn Đức C (Đã ly hôn); Con có 02 con lớn SN 2002, nhỏ SN 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Bản án số 02/2020/HSST ngày 07/1/2020, TAND thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ tội “Cố ý gây thương tích”, Nộp 200.000đ tiền án phí HSST và 333.794đ án phí dân sự tại biên lai số 0024 ngày 25/09/2020 (đã được xoá án tích); D chỉ bản số: 053 do Công an quận B lập ngày 15/01/2025; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 21/01/2025; Bị cáo hiện đang tạm giam tại trại giam S – Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Mạc Thị H1, sinh năm: 1974

HKTT: Số 1 ngõ G T, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị H là giáo viên trường trung học cơ sở P, S, Hà Nội từ năm 1999 đến năm 2019 thì xin nghỉ công tác và đi làm lao động tự do. Năm 2022, H xin vào làm nhân viên thời vụ của công ty TNHH P1, địa chỉ: số C K, C, quận B, thành phố Hà Nội. Công việc của H là dọn dẹp vệ sinh tại các trường học. Công ty P1 đã giao việc cho H đến dọn dẹp vệ sinh tại trường Tiểu học T1, quận H, thành phố Hà Nội. Ngày 05/9/2022, trường Tiểu học T1 khai giảng năm học mới và có yêu cầu giáo viên và nhân viên trong trường mặc áo dài truyền thống để chụp ảnh, trong đó có H. H để ảnh của mình chụp tại trường tiểu học T1 làm ảnh đại diện trên mạng xã hội Facebook. Đến năm 2023, thấy hình ảnh của H trên Facebook, bạn của H là anh Nguyễn Văn T; sinh năm: 1960; địa chỉ: đội A thôn T, xã N, huyện Đ, thành phố Hà Nội, liên hệ để nói chuyện thì H nói dối bản thân đã chuyển công tác từ trường trung học cơ sở Phù Lỗ đến trường tiểu học T1. Tin vào lời của H, anh T đặt vấn đề nhờ H lo chuyển công tác cho bạn mình là chị Mạc Thị H1, sinh năm: 1974; nơi cư trú: số I ngõ G T, phường K, quận B, thành phố Hà Nội, đang là giáo viên tại trường tiểu học L2, huyện K, tỉnh Hải Dương đến làm việc tại một trong các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội. H đồng ý. Anh T đã đưa số điện thoại của H cho chị H1 để tự liên lạc và trao đổi về công việc. H trao đổi với chị H1, nói dối bản thân đang là giáo viên của trường tiểu học T1 và có người nhà trên Sở giáo dục đào tạo thành phố H, có thể giúp chị H1 chuyển công tác đến một trong các trường học trên địa bàn thành phố Hà Nội. Để tạo sự tin tưởng, H cho biết hiện có các trường học tại khu vực huyện T và quận Đ, thành phố Hà Nội có chỉ tiêu tuyển giáo viên. H thỏa thuận nếu chị H1 muốn chuyển đến công tác tại địa bàn huyện T thì phải đưa H số tiền 130.000.000đ (một trăm ba mươi triệu đồng), còn quận Đ là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng). Sau đó, chị H1 đề nghị H giúp chuyển công tác đến trường học tại khu vực quận Đ. H đồng ý với đề nghị của chị H1 và yêu cầu chị H1 phải đưa trước số tiền 70.000.000đ (bảy mươi triệu đồng). Số tiền còn lại H sẽ lấy khi chị H1 nhận được quyết định chuyển công tác.

Ngày 07/12/2023, chị H1 hẹn gặp H tại số 1 ngõ G T, phường K, quận B, thành phố Hà Nội và đưa số tiền 70.000.000đ, có giấy biên nhận tiền. Sau khi nhận tiền, H hứa hẹn đến tháng 1/2024 chị H1 sẽ được chuyển công tác như nguyện vọng nhưng sau đó H không liên hệ với cá nhân hay cơ quan tổ chức nào để xin chuyển công tác cho chị H1 mà đã tiêu xài hết số tiền. Đến hẹn, không thấy được chuyển công tác nên chị H1 đã chủ động liên lạc với H. Thấy vậy, H đã chặn liên lạc với chị H1.

Tại bản kết luận số 7419/KL-KTHS ngày 15/11/2024 của Viện khoa học hình sự Bộ C1 kết luận: chữ viết phần nội dung và chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Thị H trên mẫu cần giám định ký hiệu A là chữ viết, chữ ký trực tiếp; so với chữ viết, chữ ký của Lê Thị H trên mẫu so sánh ký hiệu M do cùng một người viết, ký ra.

2

Quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra đã xác minh nhân thân, lai lịch, thu thập tài liệu vật chứng, ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Thị H. Ngày 22/1/2025, Cơ quan điều tra đã truy tìm và tiến hành bắt giữ Lê Thị H.

Vật chứng thu giữ: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số IMEI: 358603073108986, số sim: 0836052006 của Lê Thị H.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lê Thị H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Về dân sự: chị Mạc Thị H1 đã nhận số tiền 70.000.000 đồng bồi thường từ phía gia đình của Lê Thị H và không có yêu cầu gì khác.

Cáo trạng số 92/CT-VKS ngày 07/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Lê Thị H về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điểm c, Khoản 2, Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị áp dụng: Điểm c, Khoản 2, Điều 174; Điểm b,s, khoản 1, điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt: Lê Thị H từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam: 21/01/2025. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số IMEI: 358603073108986, số sim: 0836052006 của Lê Thị H (đã qua sử dụng). Theo biên bản bàn giao số 141 ngày 22/05/2025 tại Chi cục Thi hành án quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Về dân sự: chị Mạc Thị H1 đã nhận số tiền 70.000.000 đồng bồi thường, không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn vào kếtquả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

[1]. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Lê Thị H đã có hành vi gian dối, giới thiệu mình là giáo viên trường tiểu học T1, H, Hà Nội và nói là có khả năng xin chuyển công tác đến các trường trên địa bàn Hà Nội để chị Mạc Thị H1 tin tưởng. Ngày 7/12/2023, tại số 1 ngõ G T, phường K, quận B, thành phố Hà Nội, chị H1 đã đưa cho H 70.000.000 đồng để xin chuyển trường và H đã chiếm đoạt số tiền trên của chị H1.

3

[2]. Hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người bị hại, bị cáo đã chiếm đoạt số tiền 70.000.000 đồng để lấy tiền tiêu xài cho bản thân. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c, khoản 2, Điều 174 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của ngưởi khác, tạo dư luận bất bình, bức xúc đối với người bị hại. Bị cáo biết rõ hậu quả nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với động cơ mục đích vụ lợi cá nhân, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho người bị hại để làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,s, khoản 1, điều 51 Bộ luật hình sự. Nhân thân của bị cáo đã có 01 tiền án tuy đã được xoá nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tiếp tục phạm tội nên đối với bị cáo cần có một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[4]. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số IMEI: 358603073108986, số sim: 0836052006 của Lê Thị H (đã qua sử dụng). Theo biên bản bàn giao số 141 ngày 22/05/2025 tại Chi cục Thi hành án quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xét.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng: Điểm c, Khoản 2, Điều 174; Điểm b,s khoản 1, điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

  • - Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: Lê Thị H 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/01/2025.

4

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số IMEI: 358603073108986, số sim: 0836052006 của Lê Thị H (đã qua sử dụng). Theo biên bản bàn giao số 141 ngày 22/05/2025 tại Chi cục Thi hành án quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xét.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát quận Ba Đình;
  • - Thi hành án quận Ba Đình;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thúy Hạnh

5

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

----------

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH

Với hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh

Các Hội thẩm: Bà Nguyễn Thị Thuy

Bà Ngô Thuỳ Linh

Căn cứ vào điều 299 và điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 28 tháng 05 năm 2025 tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với:

LÊ THỊ H, sinh năm: 1979, tại: An Giang; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: K, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Bản án số 02/2020/HSST ngày 07/1/2020, TAND thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ tội “Cố ý gây thương tích”, Nộp 200.000đ tiền án phí HSST và 333.794đ án phí dân sự tại biên láioos 0024 ngày 25/09/2020 (đã được xoá án tích); D chỉ bản số: 53 do Công an quận B lập ngày 15/01/2025; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày: 21/01/2025; Bị cáo hiện đang tạm giam tại trại giam S – Công an thành phố H - Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Mạc Thị H1, sinh năm: 1974

HKTT: Số 1 ngõ G T, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã đợc thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án nh sau:

6

1. Về tội danh: Kết quả biểu quyết: 3/3 = 100%. Nhất trí.

Đủ cơ sở để kết luận:

Bị cáo Lê Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng (điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự): 3/3 = 100%. Nhất trí

Áp dụng: Điểm c, Khoản 2, điều 174; điểm b,s khoản 1, điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

3. Về mức hình phạt: 3/3 = 100%. Nhất trí.

Xử phạt: Lê Thị H 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 21/01/2025.

Các vấn đề khác: 3/3 = 100%. Nhất trí.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lê Thị H 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6s plus màu vàng, số IMEI: 358603073108986, số sim: 0836052006 của Lê Thị H (đã qua sử dụng). Theo biên bản bàn giao số 141 ngày 22/05/2025 tại Chi cục Thi hành án quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xét.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thành viên hội đồng xét xử

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HSST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 101/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H. - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger