Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 101/2025/HSPT

Ngày: 23/6/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến

Bà Lê Thị Tố Như

- Thư ký ghi biên bản phiên toà:

Bà Trần Thị Minh Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá tham gia phiên toà:

Bà Thiều Thị Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 127/2025/HSPT ngày 09 tháng 05 năm 2025 đối với bị cáo Lê Đình H, do có kháng cáo của bị cáo Lê Đình H đối với bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HSST ngày 01 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

* Bị cáo kháng cáo:

Lê Đình H, sinh ngày 27/7/1995 tại: Xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số thẻ Căn cước công dân: [...]; Nơi cư trú: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình T (đã chết) và bà Phạm Thị T1; Có vợ là Lê Thị T2 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ ngày 04/01/2025, chuyển tạm giam ngày 10/01/2025, đến ngày 25/01/2025 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”; Có mặt.

Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Tất K, Trịnh Đình T3, Đỗ Ngọc D, Nguyễn Văn P và Hà Xuân H1 bị xét xử về tội trộm cắp tài sản và các bị hại không kháng cáo, không có kháng nghị nên toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, Phúc thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 04/01/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp nhận tin báo của bà Lê Thị N (sinh năm 1967), trú tại Khu phố F, Thị trấn T, huyện T về việc: Khoảng 01 giờ 45 ngày 04/01/2025, bà N phát hiện hai đối tượng đi xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu cam đen, sử dụng thòng lọng trộm cắp của gia đình bà 01 con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu vàng trắng, trọng lượng 20 kilôgam, trị giá khoảng 1.600.000đồng.

Tiến hành rà soát xác minh các đối tượng có biểu hiện hoạt động trộm cắp tài sản (chó) trên địa bàn huyện T xác định đối tượng nghi vấn trộm cắp chó của gia đình bà Lê Thị N là Nguyễn Tất K (sinh năm 1996), trú tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Biết không trốn tránh được pháp luật, Nguyễn Tất K đã đến Công an xã T, huyện T xin đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu xám, gắn sim số thuê bao 0398.994.789. K khai báo sử dụng chiếc điện thoại di động trên để liên lạc với Trịnh Đình T3 (sinh năm 1996), trú cùng Thôn T, xã T rủ nhau đi trộm cắp chó; liên lạc với Hà Xuân H1 (sinh năm 1987) trú cùng Thôn T, xã T để giao bán chó trộm cắp.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Tất K, thu giữ: 01 áo khoác màu đen và 01 quần nỉ dài màu đen, 01 đôi giầy màu trắng. Các đồ vật bám dính chất màu nâu đỏ.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Tất K, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trịnh Đình T3. Quá trình làm việc Trịnh Đình T3 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Tất K sau đó đem bán lại cho Hà Xuân H1.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Trịnh Đình T3 tại Thôn L, xã T, huyện T thu giữ: 01 (một) bộ dụng cụ gồm đoạn dây điện màu đỏ gắn với thanh kim loại màu đen; 01 (một) đèn pin nhãn hiệu Wasing màu đen có quai đeo màu đen; 01 (một) bộ áo mưa màu xanh đen, cổ áo ghi chữ Tú Phong, size XL; 02 (hai) vỏ chai bia màu xanh; 01 (một) đoạn dây (dạng dây dù) màu xanh, lõi trong màu xanh đen trắng; 01 (một) cuộn chỉ màu đen; 02 (hai) cuộn băng dính màu đen; 02 (hai) chiếc kéo, trong đó 01 chiếc có màu sáng trắng, 01 chiếc có cán bọc nhựa màu đỏ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu vàng đồng, số imeil 353136100575682, imei2 353136100544688, gắn sim số thuê bao 0982.988.212.

Khám xét chỗ ở của Trịnh Đình T3 tại Thôn T, xã T, huyện T thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu cam đen, BKS: 36B5-512.39 xe đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc quần dài màu đen, sọc trắng, phía trước quần có dòng chữ "Batencraga"; 01 (một) chiếc quần dài màu đen, sọc trắng, phía trước quần có dòng chữ "Sport"; 01 (một) áo khoác màu đen, hai cánh tay áo có hình hoa văn màu trắng; 01 (một) áo khoác màu đen loại có mũ, trên áo có hình họa tiết chữ DG; 01 (một) bình nhựa hình trụ tròn, phần đầu làm bằng nhựa màu đen, phần thân bình màu xanh, trên thân bình có dòng chữ “NATO"; 01 (một) đoạn kim loại dạng ống tuýp sắt hình tròn có quấn băng dính đen, một đầu gắn thanh kim loại dạng lưỡi dao, chiều dài tổng 114cm; 01 (một) đoạn gậy dài 96cm, thân gậy quấn băng dính đen, một đầu gậy có bọc vải màu đỏ, một đầu gậy có gắn dây thép hình tròn; 01 (một) đoạn gậy dài 96cm, thân gậy quấn băng dính đen, một đầu gậy có gắn dây thép hình tròn;

Tiến hành xác minh, xác định đối tượng Hà Xuân H1 đang bán chó trộm cắp cho Lê Đình H (sinh năm 1995), trú tại Thôn T, xã X, huyện T vào ngày 04/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T phối hợp Phòng PC02 Công an tỉnh T, Công an xã X, huyện T bắt quả tang Hà Xuân H1 và Lê Đình H. Cơ quan điều tra thu giữ: 01 lồng kim loại bên trong có 04 cá thể chó tổng trọng lượng cả chó và lồng là 80,7kg; 01 lồng kim loại bên trong có 03 cá thể chó, tổng trọng lượng cả lồng và chó là 74kg; 01 điện thoại di động Redmi 9A màu xanh, số Imeil: 864087064426713, số Imei2: 864087064426721, lắp thẻ sim số 0982.948.593 thu của Hà Xuân H1; 01 điện thoại OppoA17K màu xám, số Imeil: 865020065798417, số Imei2: 865020065798409, lắp sim số 0347.439.269 và số 0364.358.567 thu của Lê Đình H; 01 xe ô tô tải Huyndai biển kiểm soát 99C-041.10 xe màu xanh đã qua sử dụng. Trên xe có 01 cân đồng hồ màu xanh lọa 150kg nhãn hiệu Nhơn Hòa; 01 lồng kim loại hình hộp chữ nhật màu xám, dài 136cm, rộng 71cm, cao 48cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04e màu đen số Imeil: 350128815611897, Imei2: 352941235611893, gắn sim số thuê bao 0978.758.391 của Hà Xuân H1; 01 thẻ ngân hàng M1 màu xanh số thẻ 9704222021728316 mang tên Le Dinh H2; 01 thẻ ngân hàng A1 màu vàng, số thẻ 970405105422798 mang tên Le Dinh H2; 01 tờ tiền Polime mệnh giá 500.000 đồng thu giữ của Hà Xuân H1.

Khám xét nơi ở của Lê Đình H tại thôn T, xã X, huyện T thu giữ: 01 lồng sắt bên trong có 04 cá thể chó có tổng trọng lượng cả lồng và chó 54kg; 01 lồng sắt bên trong có 04 cá thể chó, tổng trọng lượng cả lồng và chó là 90kg; 01 lồng sắt bên trong có 04 cá thể chó, tổng trọng lượng cả lồng và chó là 74kg; 01 cân đồng hồ màu xanh loại 120kg, nhãn hiệu Nhân Hòa đã qua sử dụng; 02 cá thể mèo đựng trong bì xác rắn màu xanh, bên ngoài có dòng chữ “con cò”, tổng trọng lượng 3,5kg; 01 thẻ nhớ màu đen, loại 32gb, nhãn hiệu HIKVISION.

Khám xét nơi ở của Hà Xuân H1 tại thôn T, xã T, huyện T: Không thu giữ gì.

Quá trình làm việc, Hà Xuân H1 khai nhận hành vi phạm tội của bản thân. H1 khai báo ngoài mua chó trộm cắp của Nguyễn Tất K và Trịnh Đình T3 thì vào tối ngày 03/01/2025 và 04/01/2025 còn thu mua chó trộm cắp của Nguyễn Văn P (sinh năm 1996), trú tại Thôn T, xã T và Đỗ Ngọc D (sinh năm 1994), trú tại thôn T, xã X, huyện T. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Ngọc D và Nguyễn Văn P.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Đỗ Ngọc D tại thôn T, xã X, thu giữ: 02 (hai) bì màu xanh, thân bì có đục các lỗ nhỏ hình tròn; 05 (năm) vỏ chai bia nhãn hiệu T4 Hoa màu nâu; 03 (ba) đèn pin màu đen, nhãn hiệu WFL-AD3L, hình trụ tròn, chiều dài 35,4cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) gậy bằng kim loại, bọc băng dính màu đen bên ngoài, trân thân gậy có quấn dây điện màu đen và dây phanh, trên dây phanh có gắn đinh bọc băng dính màu đen; 01 (một) đôi giày màu trắng nhãn hiệu LUFUNFS, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi giày màu trắng, loại giày vải, nhãn hiệu ASEAN SHOES (bên trong đồi giầy có 01 đôi tất màu đen không ghi nhãn hiệu); 01 (một) khối hộp chữ nhật vỏ băng gỗ, kích thước (28,5 x 8,7 x 8,7)cm, trong hộp có hệ thống dây điện và ổ cắm, bên ngoài hộp và dây điện bọc băng dính màu đen; 01 (một) bình sạc ắc quy hình hộp chữ nhật, kích thước (8,7 x 14 x 11,2)cm, có hệ thống dây điện dùng để sạc điện; 02 (hai) cuộn băng dính màu đen nhãn hiệu Nano Tong a D1; 01 (một) bình xịt hơi cay hình trụ tròn màu xanh đen nhãn hiệu NATO Super-Paralisant, quấn băng dính màu đen; 01 (một) áo chống nắng sọc ca rô màu đen - trắng; 01 (một) quần dài màu đen có sọc trắng, thân quần in dòng chữ Lacoste Spost; 01 (một) áo khoác dài tay màu xám không ghi nhãn hiệu; 01 (một) quần dài màu đen, trên thân quần có ba sọc trắng nhãn hiệu Adidas; 01 (một) quần bò màu xanh nhãn hiệu Level trên đai quần có một thắt lưng màu đen, nhãn hiệu Italy; 01 (một) áo khoác màu đen, trên thân và tay áo hai bên có hai sọc màu trắng nhãn hiệu Larow, bên trong túi áo có 01 bình xịt hơi cay màu xanh nhãn hiệu Nano Super - Poralisont, trên thân quấn băng dính màu đen; 01 (một) dao tự chế, phần cán dao làm bằng ống kim loại hình trụ tròn dài 68cm, đường kính 2,5cm, quấn băng dính màu đen; lưỡi dao bằng kim loại dài 34cm hàn gắn với cán, lưỡi dao một cạnh bằng, một cạnh sắc, phần hẹp nhất 3,5cm, phần rộng nhất rộng 6,5cm; 01 (một) túi vài màu đen có dây đeo màu đen, nhãn hiệu Nike, bên trong túi có một bình ắc quy nhãn hiệu GS GTZ5S-E, loại 12V, đấu nối với bộ kích điện được quấn dây điện, toàn bộ được bọc bằng băng dính màu đen, kết nối với dây điện có ổ cắm, công tắc; 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh xám đen, mang BKS 36D1-510.51, số máy E3X9E-440322, số khung PLCUE3210JY189623; 01 (một) mũ bảo hiểm màu xám, dạng mũ lưỡi trai, bên trên có dòng chữ Myfriend H; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng, số inmei 352039068895392, gắn sim số thuê bao 0376.818.456; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VOLTE 4G loại có bàn phím màu xanh vàng, số imei 355230521126809, không gắn thẻ sim; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max màu vàng cát, số imei 3531112104301623, gắn sim số thuê bao 0967.113.345; 01 thẻ nhớ nhãn hiệu Mixie 64G màu đen.

Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn P tại thôn T, xã T, thu giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS màu đen đã qua sử dụng, số imeil 357233098819499, imei2 357233098870856, gắn sim số thuê bao 0868.682.123.

Quá trình điều tra thể hiện:

Vào cuối năm 2024, Trịnh Đình T3 (sinh năm 1996), đến nhà rủ Nguyễn Tất K (sinh năm 1996), trú cùng Thôn T, xã T, huyện T đi trộm cắp chó bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do không có nghề nghiệp kiếm tiền nên K đồng ý. Sau đó, K đến nhà gặp Hà Xuân H1 (sinh năm 1987), trú cùng Thôn T, xã T nói chuyện. Tại đây H1 nói nếu K và T3 đi trộm cắp chó thì bán cho H1 để H1 bán lại kiếm thu nhập. H1 đồng ý thu mua chó trộm cắp của K và T3 với giá 50.000 đồng - 55.000đồng/ 1 kilôgam.

Cũng vào cuối năm 2024, Đỗ Ngọc D (sinh năm 1994), trú tại Thôn T, xã X rủ Nguyễn Văn P (sinh năm 1994), trú tại Thôn T, xã T, huyện T đi trộm cắp chó bán lấy tiền tiêu sài cá nhân thì P đồng ý. Sau đó, P đến nhà H1 đặt vấn đề bán chó trộm cắp thì H1 đồng ý thu mua với giá 50.000đồng - 55.000đồng/ 1 kilôgam.

Trước khi đi trộm cắp chó Khoa sẽ sử dụng số thuê bao 0398.994.789 gọi điện thoại đến số thuê bao 0978.758.391 của H1 biết để sắp xếp đi đón mua chó. Khi đi trộm cắp K và T3 sử dụng xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu cam đen xám mang BKS 36B5-512.39, do Khoa mượn của anh rể là Hoàng Văn N1 (sinh năm 1986), trú tại Thôn T, xã T. K điều khiển xe còn T3 ngồi sau sử dụng thòng lọng bằng dây kim loại (loại dây phanh xe) do T3 là người chuẩn bị. Khi phát hiện thấy chó đi ngoài đường thì K điều khiển xe tiếp cận còn T3 ngồi sau sử dụng thòng lọng vợt vào đầu chó, kéo đi một đoạn. Khi đến chỗ vắng người, K sẽ dừng xe lại, T3 dùng băng keo đen quấn vào mõm và chân chó sau đó cho vào bao tải đã chuẩn bị sẵn. Sau khi trộm được số lượng nhất định thì K hoặc T3 sẽ gọi điện thoại cho H1 để thống nhất địa điểm giao nhận chó trộm. Sau đó K và T3 đi xe máy mang chó đến cân rồi bỏ lên lồng chó có sẵn trên thùng xe ô tô tải của H1. H1 sẽ thanh toán tiền cho K, T3 vào ngày hôm sau.

Trước khi đi trộm cắp chó, P cũng sử dụng số thuê bao 0868.682.123 gọi điện thoại đến số thuê bao 0978.758.391 báo cho H1 biết để sắp xếp đi mua chó. D và P sử dụng xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển kiểm soát 36D1-510.51 của D để đi trộm chó. Khi phát hiện chó của các hộ dân đi ngoài đường, D điều khiển xe áp sát, P ngồi sau quãng thòng lọng tự chế bằng dây phanh có nối ắc quy (do D chuẩn bị) vào cổ chó rồi bấm công tắc cho điện giật để chó không chống cự được. P kéo chó đi một đoạn rồi xách bỏ vào bì mang theo sẵn. Khi trộm cắp được số lượng chó nhất định thì D và P chở chó đi bán cho Hà Xuân H1.

Nguyễn Tất K và Trịnh Đình T3 đi trộm cắp nhiều ngày nhưng xác định cụ thể những ngày sau:

Đêm ngày 02/01/2025, rạng sáng ngày 03/01/2025, K và T3 trộm cắp được 03 (ba) con chó gồm: 01 (một) con chó loại chó cỏ, giống cái, màu vàng đen, trọng lượng 18 kilôgam của gia đình ông Vũ Đình T5 (sinh năm 1984), trú tại Thôn A, xã T, huyện T; 01 (một) con chó loại chó cỏ, giống đực, màu đen xám trắng, trọng lượng 21 kilôgam của gia đình ông Lê Xuân P1 (sinh năm 1934), trú tại Thôn B, xã X, huyện T; 01 (một) con chó loại chó cỏ, giống đực, màu đen vàng trắng, trọng lượng 17 kilôgam của gia đình bà Lê Thị S (sinh năm 1964), trú tại Thôn B, xã X, huyện T. Sau đó, K và T3 đem nhập chó cho Hà Xuân H1 tại đoạn đường nhựa thuộc xã T, huyện T rồi đi về nhà.

Đến khoảng 06 giờ 30, ngày 03/01/2025, Hà Xuân H1 điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Huyndai mang biển kiểm soát 99C-041.10 (mượn của anh trai là Hà Xuân C, sinh năm 1985, trú tại Thôn T, xã T) chở chó đến bán cho Lê Đình H. Trước đó, H1 đã gọi điện thoại cho Lê Đình H và H đồng ý mua chó trộm cắp với giá 63.000đồng/ 1 kilôgam. Sau khi cân chó được hơn 50 kilôgam, H thanh toán trước cho H1 2.400.000 đồng bằng tiền mặt. Số tiền này, H1 đã thêm tiền và thanh toán cho Nguyễn Tất K 2.700.000 đồng bằng tiền mặt, Nguyễn Tất K đã tiêu sài hết.

Khoảng 22 giờ, ngày 03/01/2025, K tiếp tục điều khiển xe máy chở T3 đi trộm cắp chó. K và T3 trộm cắp được 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu vàng trắng, trọng lượng 17 kilôgam của gia đình ông Nguyễn Đình Đ (sinh năm 1961), Thôn E xã P, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống đực màu đen vàng, trọng lượng 20 kilôgam của gia đình ông Lê Văn T6 (sinh năm 1968), Thôn B xã X, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu vàng trắng, trọng lượng 16 kilôgam của gia đình bà Lê Thị N (sinh năm 1967), Khu F Thị trấn T, huyện T. Sau khi trộm cắp được ba con chó, K và T3 đi nhập bán cho Hà Xuân H1 tại đường nhựa xã X, huyện T.

Rạng sáng ngày 04/01/2025, K và T3 tiếp tục đi trộm cắp được 01 (một) con chó cỏ, giống cái, màu trắng sữa, trọng lượng 08 kilôgam của gia đình Lê Thị Mai P2 (sinh năm 2002), Thôn B, xã X; 01 (một) con chó, loại chó cỏ xù, giống đực, màu đen vàng, trọng lượng 06 kilôgam của gia đình anh Nguyễn Văn Đ1 (sinh năm 1985), trú tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; 01 (một) con chó loại chó cỏ, giống cái, màu vàng, trọng lượng 11 kilôgam của gia đình chị Trần Thị T7 (sinh năm 1976), trú tại Thôn T, xã T, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu xám vàng, trọng lượng 18 kilôgam của gia đình ông Ngô Đức K1 (sinh năm 1974), trú tại Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; 02 (hai) con mèo tổng trọng lượng 03 kilôgam của gia đình Lê Đình T8 (sinh năm 1970), trú tại Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Khoảng gần 03 giờ sáng ngày 04/01/2025, K và T8 gặp H1 tại đường nhựa thuộc xã T, huyện T để giao bán chó, mèo trộm cắp.

Nguyễn Văn P và Đỗ Ngọc D đi trộm cắp nhiều ngày nhưng xác định cụ thể những ngày sau:

Khoảng 18 giờ ngày 03/01/2025, Nguyễn Văn P và Đỗ Ngọc D đi trộm cắp chó. Hai đối tượng trộm được 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu đen vàng trắng, trọng lượng 17 kilôgam của gia đình ông Nguyễn Duy B (sinh năm 1966), trú tại Thôn Đ, xã X, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu vàng, trọng lượng 16 kilôgam của gia đình ông Trịnh Đình D2 (sinh năm 1966), trú tại Thôn T, xã X, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu đen vàng, trọng lượng 14 kilôgam của gia đình chị Lê Thị Mai A (sinh năm 1997), Khu phố H, Thị trấn L, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống cái, chân màu đen, trọng lượng khoảng 11 kilôgam của gia đình anh Lê Văn C1 (sinh năm 1987), trú tại Thôn T, xã X, huyện T; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu vàng, trọng lượng 16 kilôgam của gia đình ông Nguyễn Văn T9 (sinh năm 1975), Thôn K, xã K, huyện N; 01 (một) con chó cỏ, giống đực, màu xám vàng, trọng lượng 19 kilôgam của gia đình ông Phạm Công L (sinh năm 1995), Thôn T, xã K, huyện N; 01 con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu đen vàng, trọng lượng 18 kilôgam của gia đình ông Quách Văn H3 (sinh năm 1991), Thôn Đ, xã K, huyện N. Sau khi trộm cắp được 07 (bảy) con chó trên P gọi điện thoại cho H1 đến mua chó tại khu vực đê sông C gần cầu Đ thuộc xã T, huyện T.

Sau khi mua được 07 (bảy) con chó do P và Dương bán, H1 dùng xe ô tô tải chở đi bán cho Lê Đình H. Tại nhà H, H1 báo tổng trọng lượng chó là 100 kilôgam, H thanh toán cho H1 1.200.000 đồng tiền mặt và sử dụng tài khoản Ngân hàng M1 số 0347439269 mang tên Lê Đình H chuyển đến tài khoản Ngân hàng M1 số 19871686666 mang tên Hà Xuân H1 số tiền 5.000.000 đồng. Tiền mặt H đưa, H1 đã tiêu sài 700.000 đồng, còn 500.000 đồng bị cơ quan Công an thu giữ trong quá trình bắt quả tang. Do có hai con chó bị yếu, chết nên H đã làm thịt, sau đó bán lại một con cho anh Lê Đình T10 (sinh năm 1972), ở cùng thôn T, xã X còn một con đem ra chợ bán lẻ cho người dân tại địa phương, thu được số tiền 2.000.000đồng.

Rạng sáng ngày 04/01/2025, P và D tiếp tục đi trộm cắp được 03 con chó gồm: 01 (một) con chó, loại chó cỏ lai, giống cái, màu trắng xám, trọng lượng 19 kilôgam của gia đình chị Lê Thị S1 (sinh năm 1989), trú tại Thôn T, xã N, huyện N; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu xám đen vàng, trọng lượng 23 kilôgam của gia đình ông Lê Văn T11 (sinh năm 1978), trú tại Thôn H, xã P, huyện N; 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu đen vàng trắng, trọng lượng 18 kilôgam của gia đình ông Bùi Văn M (sinh năm 1975), trú tại Thôn L, xã P, huyện N. Sau đó, P gọi điện thoại cho H1 đến cân, mua chó tại khu vực đê sông C gần cầu Đ thuộc xã T, huyện T.

Khoảng hơn 02 giờ sáng ngày 04/01/2025, P và D tiếp tục đi trộm cắp được 01 (một) con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu đen vàng, trọng lượng 16 kilôgam của gia đình ông Ngần Văn L1 (sinh năm 1996), trú tại Q, xã X, huyện T. Sau đó, P gọi điện thoại cho H1 đến nhận chó tại đường cánh đồng thuộc xã T, huyện T.

Ngày 06/01/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra yêu cầu định giá tài sản số 83/YC-ĐCSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T tiến hành định giá: 19 con chó với tổng trọng lượng 312kg và 02 con mèo tổng trọng lượng 03kg.

Ngày 08/01/2025 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T ra bản kết luận số 02/KL-HĐĐG, kết luận: Giá trị của tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt là 22.140.000 đồng.

Ngày 10/02/2025 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra yêu cầu định giá tài sản số 409/YC-ĐCSHS, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T tiến hành định giá: 01 con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu vàng, trọng lượng 16kg; 01 con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu vàng trắng, chân màu đen, trọng lượng 11kg.

Ngày 13/02/2025 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T ra bản kết luận số 05/KL-HĐĐG, kết luận: 01 con chó, loại chó cỏ, giống đực, màu vàng, trọng lượng 16kg là 1.120.000 đồng; 01 con chó, loại chó cỏ, giống cái, màu vàng trắng, chân màu đen, trọng lượng 11kg là 770.000 đồng.

-Quá trình điều tra xác định các đồ vật, tài liệu và tài sản không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp

-Các đồ vật, tài liệu và vật chứng vụ án đã được xử lý trong bản án sơ thẩm:

-Phần dân sự: Các bị hại đã được giải quyết xong tại bản án sơ thẩm.

* Tại bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HSST ngày 01 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Lê Đình H;

Bị cáo Lê Đình H phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Xử phạt bị cáo Lê Đình H 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án, nhưng được trừ đi thời gian bị cáo đã bị tạm giữ, tạm giam (từ ngày 04/01/2025 đến ngày 25/01/2025).

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tất K, Trịnh Đình T3, Đỗ Ngọc D, Nguyễn Văn P và Hà Xuân H1 về xử lý vật chứng, bồi thường dân sự, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật.

* Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 08 tháng 04 năm 2025 bị cáo Lê Đình H kháng cáo với nội dung: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

* Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo trình bày nội dung vụ án. Thay đổi nội dung kháng cáo xin rút phần xin giảm nhẹ hình phạt đề nghị toà án xem xét cho bị cáo được được hưởng án treo để cải tạo tại địa phương sửa chữa lỗi lầm làm công dân có ích cho xã hội;
  • - Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Cấp sơ thẩm tuyên bị cáo về hình phạt 09 tháng tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo đã xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới đó là: Chính quyền địa phương xác nhận bị cáo luôn chấp hành tốt pháp luật và đóng góp cho địa phương đề nghị toà án xem xét cho bị cáo cải tạo tại địa phương. Gia đình bị cáo đang nuôi chú ruột không vợ con là bệnh binh, có huân chướng kháng chiến. Có xác nhận của chính quyền về việc bị cáo ủng hộ quỹ vì người nghèo

Do đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự Điều 65 BLHS, chấp nhận kháng cáo của bị cáo sửa bản án sơ thâm, xét xử bị cáo mức án 9 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm vì án được chấp nhận để cải sửa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thật sự ăn năn hối hận, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi con nhỏ, vợ hiện không có công việc làm, xin HĐXX xem xét giảm án cho bị cáo để bị cáo sớm được đoàn tụ với gia đình, làm công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Đình H làm trong thời hạn luật định, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xét thấy cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp với bị cáo nên bị cáo xin rút phần giảm nhẹ hình phạt và giữ nguyên nội dung kháng cáo đối với yêu cầu xin được hưởng án treo, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra diễn biến phiên toà sơ thẩm hành vi của bị cáo Lê Đình H được thể hiện như sau: Do không có thoả thuận hứa hẹn trước với Hà Xuân H1 về việc mua chó trộm cắp được của H1 nhưng vào thời gian từ ngày 03/01/2024 đến ngày 04/01/2024 bị cáo Lê Đình H đã ba lần mua chó, mèo của bị cáo Hà Xuân H1 cụ thể: Lần thứ nhất vào sáng 03/01/2025 thu mua của H1 03 con chó tổng trọng lượng 56kg, trị giá là 3.920.000 đồng; Lần thứ hai đêm 03/01/2025 thu mua của H1 07 con chó tổng trọng lượng 111kg, trị giá là 7.770.000 đồng; Lần thứ ba sáng ngày 04/01/2025 thu mua của H1 11 con chó tổng trọng lượng 172kg, trị giá là 12.040.000 đồng và 02 con mèo tổng trọng lượng 03kg, trị giá là 300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo mua của của H1 là 24.030.000 đồng. Biết rằng thời gian và địa điểm mua bán, giá trị tài sản cũng như bị cáo H1 không phải là người nuôi chó mèo nhằm mục đích kinh doanh, kiếm lời, khi mua bán bị cáo ý thức được tài sản do phạm pháp mà có nên cấp sơ thẩm kết luận bị cáo về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng quy định của pháp luật.
  3. [3] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những gây mất trật tự xã hội mà còn giám tiếp làm ảnh hưởng đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ, tiếp tay cho các đối tượng trộm cắp tài sản. Sau khi phạm tội bị cáo đã ý thức được việc làm của mình thành khẩn khai báo, bị cáo Lê Đình H đã có thời gian tham gia Q1 là 01 năm 06 tháng; Trong qúa trình sinh sống tại địa phương tích cực tham gia các phong trào thiện nguyện, ủng hộ quỹ vì người nghèo có xác nhận; Ngoài ra bị cáo H đã tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 2.000.000đ, nên bị cáo H được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cấp sơ thẩm án dụng tình tiết giảm nhẹ trên cho bị cáo là phù hợp pháp luật. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhưng bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội “02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS, tuy nhiên mỗi lần phạm tội đều là tội ít nghiêm trọng, trong vụ án tài sản đã khắc phục, bồi thường nộp lại cho nhà nước số tiền thu lời bất chính đầy đủ.

    * Tại cấp phúc thẩm: Bị cáo xuất trình thêm tình tiết mới đó là: Gia đình bị cáo đang nuôi ông chú ruột là thương binh không vợ con, có huân chương kháng chiến. Ngoài ra quyền địa phương xác nhận cho bị cáo là bộ đội về xuất ngũ luôn chấp hành chủ trương của nhà nước trong hoạt động lao động tại địa phương, ủng hộ quỹ vì người nghèo, chính quyền địa phương xác nhận đề nghị toà án xem xét cho bị cáo cải tạo tại địa phương. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá và có thêm tình tiết giảm nhẹ mới ở cấp phúc thẩm. Vì vậy HĐXX xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ dàng, ngoài lần phạm tội này luôn chấp hành pháp luật vì vậy xét thấy không cần thiết phải phạt bị cáo hình thức cải tạo giam giữ mà để bị cáo chấp hành hình phạt tại địa phương dưới sự giáo dục, giám sát của chính quyền cũng đủ sức cải tạo bị cáo thành công dân có ích. HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo theo ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo trở thành công dân có ích.

  4. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. [5] Án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, vì kháng cáo của bị cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 25/2025/HSST ngày 01 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá, cụ thể:

    Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 của BLHS;

    Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình H phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Xử phạt: Bị cáo Lê Đình H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giao dục, giao Công an xã giám sát trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (p7);
  • - TAND, VKSND tp Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS tp Thanh Hoá;
  • - Công an tp Thanh Hoá;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HSPT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 101/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đình H phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger