Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2025/HS-ST

Ngày 24 - 6 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khiển, bà Lèo Thị Chan.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Văn Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 06 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:

Lường Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19/11/1993, tại huyện Q, tỉnh Sơn La; nơi ĐKHKTT: Bản N, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Đảng phái, đoàn thể: Không; con ông: Lường Văn H và bà: Lò Thị N (đều đã chết); có vợ: Lò Thị Ả, và có 02 con (con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/3/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02/01/2025, khi Lường Văn P đang ở nhà thì lực lượng Công an huyện Q và Công an xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La đến làm việc, thông báo có thông tin P tàng trữ súng hơi, yêu cầu nếu có vũ khí, công cụ hỗ trợ, vật liệu nổ thì tự giác giao nộp, sau khi được yêu cầu, P đã giao nộp súng và đạn đang tàng trữ trái phép. Vật chứng thu giữ gồm:

01 khẩu súng kíp, kích thước 147x10cm, súng cũ đã qua sử dụng, được ký hiệu A1; 01 khẩu súng hơi màu đen kích thước 75x32cm có dây đeo màu đen, gắn ống giảm thanh hình trụ tròn có chữ Bushenll kích thước 20x3cm được gắn trên thân súng, ống ngắm hình trụ tròn có gắn chữ DiscoveryOTP VT-R4-16x42AOAC kích thước 35x5, súng đã qua sử dụng được đánh ký hiệu A2; 03 viên đạn kim loại hình tròn cùng kích thước 0,6635cm và 01 viên đạn hình trụ kích thước 2x0,6cm được đánh ký hiệu giám định là A3.

Tại kết luận giám định số 211/KL-KTHS ngày 07/01 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận:

  • - Khẩu súng gửi giám định ký hiệu A1 là súng kíp, thuộc danh mục súng săn (quy định tại Điều 3 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024), súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
  • - Khẩu súng gửi giám định A2 là súng nén hơi, thuộc danh mục vũ khí quân dụng (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024), súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
  • - Mẫu gửi giám định ký hiệu A3 là đạn, thường sử dụng cho các loại súng nén hơi, nén khí thuộc danh mục vũ khí quân dụng (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số).

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lường Văn P khai nhận:

Khoảng tháng 3/2023 Lường Văn P đi bẫy gà rừng tại xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu thì gặp và mua được một khẩu súng kíp cùng một ít thuốc súng, kíp và đạn bi kim loại của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được súng P đã sử dụng đi săn bắn khoảng 10 lần, hết số đạn mua được, sau đó cất giấu súng dưới gầm sàn nhà. Đến khoảng đầu tháng 04/2024 P tiếp tục đi bẫy gà rừng tại xã N, huyện T, tỉnh Lai Châu gặp và mua được một khẩu súng nén, 40 viên đạn hình nấm của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, địa chỉ, số điện thoại với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua được súng P đã sử dụng săn bắn khoảng 6-7 lần, sau đó cất giấu súng cùng 04 viên đạn hình nấm còn lại trên nóc tủ gỗ trong nhà sàn đang ở. Đến ngày 02/01/2025 tổ công tác Công an huyện Q đến làm việc, P tự giác giao nộp hai khẩu súng và đạn cho tổ công tác.

Về nguồn gốc 02 khẩu súng nêu trên, Lường Văn P khai mua của hai người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên, tuổi, địa chỉ và số điện thoại tại khu V, huyện T, tỉnh Lai Châu vào thời điểm tháng 3/2023 và tháng 4/2024 nên không có căn cứ để điều tra, xác minh.

Đối với việc cất giữ khẩu súng kíp kích thước 147/10cm, là hành vi độc lập, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự. Ngày 06/5/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh S đã có văn bản chuyển tài liệu, vật chứng vi phạm hành chính đến phòng Quản lý hánh chính về trật tự xã hội Công an tỉnh S để xem xét, xử lý vi phạm đối với Lường Văn P là đúng quy định của pháp luật.

Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số: 71/CT-VKS-P1 ngày 03/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Lường Văn P về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, không khai báo gì thêm.

Tranh luận tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

Áp dụng khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn P từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S quản lý, giải quyết theo quy định đối với vật chứng là 01 khẩu súng nén hơi và 04 viên đạn thu giữ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Lường Văn P không có ý kiến tranh luận. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Ngày 02/01/2025, Lường Văn P bị bắt giữ tại nhà ở bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La khi có hành vi cất giữ một khẩu súng nén hơi và 04 viên đạn thuộc danh mục vũ khí quân dụng, mục đích để săn bắn.

Hành vi của bị cáo Lường Văn P được chứng minh bằng các căn cứ sau:

  • Đơn tố giác ngày 01/01/2025;
  • Biên bản sự việc ngày 02/01/2025 của Công an huyện Q, tỉnh Sơn La;
  • Kết luận giám định số 211/KL-KTHS ngày 07/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh S.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ các căn cứ chứng minh nêu trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lường Văn P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo với tội danh như trên là có căn cứ.

[3] Tình tiết định khung hình phạt:

Bị cáo Lường Văn P tàng trữ 01 khẩu súng nén hơi và 04 viên đạn thuộc danh mục vũ khí quân dụng, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”, được quy định khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 07 năm tù.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lường Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện giao nộp tang vật khi được yêu cầu và có ông nội là Lường Văn S được Hội tặng Huân chương kháng chiến hạng hai nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức việc tàng trữ vũ khí quân dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm các quy định của nhà nước về chế tạo, quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kĩ thuật quân sự. Do đó, cần có mức hình phạt phù hợp tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng vừa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là không cần thiết, do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để bị cáo cải tạo tại địa phương, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm và thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước, phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung, xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án:

Đối với 01 khẩu súng nén hơi cùng với 04 viên đạn thuộc vũ khí quân dụng nên cần tuyên tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh S xử lí theo quy định.

[8] Về án phí: Bị cáo Lường Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

  • - Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
  • - Xử phạt bị cáo Lường Văn P 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/6/2025).

Giao bị cáo Lường Văn P cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên trả tự do cho bị cáo Lường Văn P ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 61, Điều 63, Điều 66 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/6/2024.

Tịch thu và giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh S tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền:

01 (một) khẩu súng hơi màu đen, 04 (bốn) viên đạn được đựng trong một gói vật chứng (bằng bìa carton) còn nguyên niêm phong.

(Hiện trạng, đặc điểm vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 40 phút ngày 28 tháng 5 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lường Văn P phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lường Văn P được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/6/2025)./.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Khiển

Lèo Thị Chan

Tòng Thị Hiền

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La;
  • - Cục THADS tỉnh Sơn La;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã Chiềng Khay, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng TT, KTNV và THA;
  • - Lưu HS-VA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 101/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger