Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 101/2025/HS-ST

Ngày 18-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thùy Ngân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lâm

Bà Trương Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Xuân Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa:

Ông Đinh Tiến Dũng, Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 110/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 453/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tống Sỹ L (Tên gọi khác: Không có)

Sinh ngày 20/4/1962 tại huyện V, tỉnh Thái Bình;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Tống Sỹ N (Đã chết) và bà Nguyễn Thị L1 (Đã chết); Vợ Trần Thị T, sinh năm 1972; Có 03 con, con cả sinh năm 1994, con út sinh năm 2000;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Tại bản án số 30/HSST ngày 30/8/2004 của Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Gá bạc.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh C (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 00 giờ 45 phút ngày 25/02/2025, tại xóm P, thị trấn T huyện T, tỉnh Cao Bằng tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu T1, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh C và Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng phát hiện một nhóm đối tượng đang mang vác bao tải di chuyển theo hướng từ biên giới đi xóm P. Tổ công tác ra hiệu lệnh để tiến hành kiểm tra thì nhóm đối tượng bỏ chạy, tiến hành khống chế được 01 đối tượng là Tống Sỹ L (sinh năm 1962, trú tại Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên), thu giữ 01 bao tải màu xanh có luồn dây vải màu xám L vừa bỏ xuống đất, bên trong có 24 hộp nghi là pháo hoa nổ loại 36 quả/01 hộp. Cách vị trí L đứng khoảng 03 mét có 02 bao tải màu xanh trong mỗi bao đều có 24 hộp nghi là pháo hoa nổ loại 36 quả/01 hộp do các đối tượng đi cùng L bỏ lại. Qua khai thác nhanh: Ly khai nhận được một người không quen thuê vác 01 bao tải đựng pháo để nhận tiền công là 300.000 đồng. Khi bị bắt quả tang thì người thuê L và 02 người nữa bỏ hàng lại chạy thoát, còn L bị bắt cùng bao tải L vác. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tống Sỹ L và niêm phong vật chứng theo quy định.

Ngày 25/02/2025, Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế T1 chuyển vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an tỉnh C để điều tra theo quy định.

Cùng ngày, các cơ quan chức năng tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng, trích mẫu gửi giám định và niêm phong lại. Kết quả: 24 khối hình hộp thu giữ của Tống Sỹ L có tổng khối lượng là 33kg; 64 khối hình hộp các đối tượng đi cùng L bỏ lại khi bắt quả tang có tổng khối lượng là 63,8kg.

Tại kết luận giám định số 163/KL-KTHS ngày 03/3/2025 của Phòng K, Công an tỉnh C kết luận: Các mẫu vật hình khối hộp gửi giám định đều là pháo nổ.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như sau: Ngày 24/02/2025, Tống Sỹ L một mình đi xe khách từ nhà ở huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến thị trấn T, huyện T, tỉnh Cao Bằng để tìm việc làm thuê. Khoảng 15 giờ cùng ngày, L đến thị trấn T và nghỉ tại một nhà trọ. Khoảng 21 giờ cùng ngày, có một người đàn ông (không rõ lai lịch) đến nhà trọ tìm người bốc vác hàng hóa, sau đó người này thuê L đi vác hàng, hứa hẹn sau khi xong việc sẽ trả tiền công 300.000 đồng, L đồng ý. Sau đó, người đàn ông chở L đi bằng xe máy (không rõ nhãn hiệu, biển kiểm soát) đến một bờ ruộng gần một ngôi làng (L không rõ địa điểm) thì dừng lại và đi bộ cùng nhau đến một hẻm núi, người này bảo L ngồi đợi ở đây để chờ người này cùng 02 người khác đi vác hàng về đến thì sẽ đưa hàng cho L vác. L ngồi chờ khoảng 02 tiếng thì người đàn ông thuê L đi bộ quay lại, cùng đi có 02 người đàn ông khác (không rõ lai lịch), trên lưng mỗi người đều vác theo 01 bao tải hàng đi đến chỗ L. Sau đó người đàn ông thuê L đưa 01 bao hàng mà người này đang vác sang cho L, còn người này đi trước dẫn đường cho cả nhóm 03 người. Khi sờ vào bao hàng thì L nhận thấy bên trong có chứa nhiều vật hình khối hộp vuông, L nhận biết được hàng hóa bên trong là hàng cấm vì vận chuyển vào nửa đêm và khi đi không được phép nói chuyện. Người thuê L đi đầu dẫn đường vừa đi vừa quan sát, cảnh giới. Khi đi được một đoạn khoảng 50 mét thì cả nhóm bị lực lượng chức năng phát hiện, người thuê L và 02 người nữa bỏ hàng lại chạy thoát, còn L bị bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại bản Cáo trạng số 35/CT-VKSCB-P1 ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo về tội: “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Tống Sỹ L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Tống Sỹ L từ 12 đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, màu đen, nhãn hiệu Redmi 9A, đã qua sử dụng.

Về án phí: Bị cáo Tống Sỹ L phải nộp 200.00 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo nhất trí với luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra phù hợp với lời khai tại phiên toà tại phiên và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Rạng sáng ngày 25/02/2025 bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm để nhận tiền công, mặt hàng pháo nổ, khối lượng pháo bị bắt quả tang là 33kg. Khi vận chuyển pháo bị cáo là người có đầy đủ trách nhiệm hình sự đối với mọi hành vi do mình gây ra, biết rõ pháo là mặt hàng nhà nước cấm, nhưng vì mục đích nhận tiền công nên bị cáo bất chấp thực hiện. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến chế độ độc quyền của N1 về quản lý, kinh doanh pháo hoa nổ.

Do đó, hành vi của bị cáo Tống Sỹ L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng chấp hành án và được xoá án tích. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không có.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý bị cáo mức hình phạt phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục bị cáo nhận ra lỗi lầm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội; Đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Việc xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động do không liên quan đến hành vi phạm tội.

[7] Về các vấn đề khác:

Đối với số vật chứng là pháo nổ còn lại của vụ án sau khi trích mẫu gửi giám định, ngày 01/4/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C ban hành Quyết định xử lý vật chứng, ngày 02/4/2025 đã tiêu hủy toàn bộ số vật chứng trên.

Đối với người đàn ông thuê bị cáo vân chuyển pháo và 02 người vác hàng cùng bị cáo L, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, đặc điểm nhận dạng cụ thể nên không có căn cứ để mở rộng điều tra làm rõ.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Tống Sỹ L phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”; Xử phạt bị cáo Tống Sỹ L 12 tháng tù, tính từ ngày 25/02/2025.
  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động đựng trong 01 phong bì niêm phong theo quy định, mặt trước ghi “điện thoại di động của Tống Sỹ L (SN: 1962, trú tại: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên)”. Mặt trước có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và đóng giáp lai các dấu hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh C.

    Xác nhận vật chứng trên được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C chuyển giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng số 92 ngày 15/5/2025.

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Bị cáo Tống Sỹ L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Cơ quan An ninh điều tra;
  • - Cục THADS tỉnh Cao Bằng.
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh CB;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án, HCTP;
  • - Lưu toà HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tô Thị Thùy Ngân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 101/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tống Sỹ L vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger