Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 101/2025/HS-ST

Ngày 13-06-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Hà Thị Nga

Ông Đinh Văn Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Cẩm Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 84/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 388/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 06 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn An B, sinh ngày 25 tháng 03 năm 1995 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số C A, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; tạm trú: Không có nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị Thanh N; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Tại quyết định số 14/QĐ-TA ngày 19/04/2023, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (chưa được xóa tiền sự); bị tạm giam ngày 17/01/2025; có mặt

Bị hại: Anh Lê Quang V, sinh năm 1981; nơi cư trú: Số C A, phường L, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Hoàng H, sinh năm 1988; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số G B, Phạm Ngũ L, thành phố H, tỉnh Hải Dương; tạm trú: Tổ C cụm E Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 12/11/2024 Công an phường K tiếp nhận đơn trình báo của anh Lê Quang V về việc anh bị mất chiếc xe mô tô Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 15B1-825.24 tại tầng hầm B1 tòa Camelia thuộc chung cư H, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Công an đã đến hiện trường, lấy lời khai của người liên quan và trích xuất camera thì phát hiện thấy Nguyễn An B là người điều khiển chiếc xe của anh V ra khỏi bãi gửi xe vào lúc 12 giờ 30 phút cùng ngày. Qua xác minh truy tìm, đến 16 giờ 45 phút ngày 13/11/2024 thì Cơ quan Công an phát hiện thấy B đang chơi điện tử tại quán Internet của ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1960 ở địa chỉ thôn N, xã Q, huyện A (nay là phường A, quận A), thành phố Hải Phòng nên đã đưa B cùng vật chứng về trụ sở Công an làm việc.

Anh Đặng Vũ H1 là trưởng ca trực bảo vệ từ 07 giờ đến 19 giờ ngày 12/11/2024 tại khu vực tầng hầm gửi xe B1 tòa Camelia đã giao nộp 01 xe môtô nhãn hiệu Wave màu vàng, biển kiểm soát 16M7-1345 mà B để lại tầng hầm B1 tòa Camelia và 01 USB lưu trữ các video liên quan đến vụ việc trộm cắp tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐGTS ngày 02/12/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận L kết luận: Chiếc xe mô tô Honda Airblade, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 15B1-825.24 đã qua sử dụng trị giá là 15.000.000đồng.

Tại Kết luận giám định số 647/KL-KTHS ngày 12/3/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận 09 tập tin video có phần mở rộng “MP4” tổng dung lượng 303 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 4GB đã qua sử dụng (ký hiệu A) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh.

Ngày 17/01/2025, Nguyễn An B bị bắt theo Lệnh bắt bị can để tạm giam của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Nguyễn An B khai tên là Nguyễn Văn P, sinh năm 2000, nơi thường trú tại Quảng Ninh, không nhớ tên bố mẹ, không khai nhận hành vi phạm tội. Sau đó, B thay đổi lời khai và xác nhận lai lịch chính xác, B thừa nhận hành vi phạm tội nhưng không nhớ chi tiết cụ thể. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của người bị hại, người làm chứng và hình ảnh camera đã xác định được hành vi phạm tội của Nguyễn An B như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 12/11/2024, Nguyễn An B đi xe Wave màu vàng, biển kiểm soát 16M7-1345 đến cổng chung cư Hoàng Huy C gặp anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1988, nơi ở: Q, phường N, quận A, thành phố Hải Phòng để cùng sửa chữa điện nước tại khu chung cư. Anh L1 chở B vào gửi xe ở cột E14 tầng hầm B1 tòa Camelia và cất vé xe vào trong cốp, sau đó đưa chìa khóa xe cho B, rồi cả hai đến

3

phòng 3118 tầng 31 tòa Camelia. Khoảng 30 phút sau, anh L1 đi về, còn B ở lại làm tiếp. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, B đi bộ xuống tầng hầm thì thấy chiếc xe Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 15B1-825.24 của anh V vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện nên nảy sinh ý định trộm cắp. B quan sát xung quanh không có ai nên đã tiến lại gần, ngồi lên xe rồi nổ máy đi. Khi đến cửa tầng hầm thì thấy barie ở cổng đang mở, bảo vệ lại đang nghe điện thoại nên đi B điểu khiển xe ra ngoài. Đến 07 giờ ngày 13/11/2024, B đến quán Internet của ông S để chơi điện tử thì bị Cơ quan Công an đưa về trụ sở làm việc.

Bị hại anh Lê Quang V khai nhận: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 12/11/2024, anh để xe Honda Airblade, biển kiểm soát 15B1-825.24 tại tầng hầm B1 tòa Camelia, thẻ xe để trong cốp, chìa khóa cắm ở ổ khóa điện, rồi lên phòng 2114. Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, anh không tìm thấy xe của mình nên đã thông báo cho B1 quản lý và đến Cơ quan Công an trình báo. Hiện anh đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên anh không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Đỗ Hoàng H khai: Anh là bảo vệ Công ty Cổ phần D, nhận nhiệm vụ chốt tại cửa soát vé khu vực tầng hầm gửi xe B1 tòa Camelia, ca từ 07 giờ đến 19 giờ ngày 12/11/2024. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, anh V báo không tìm thấy xe nên anh đã kiểm tra camera thì phát hiện có nam giới mặc áo trắng đã lấy xe của anh V đi ra ngoài.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave màu vàng, biển kiểm soát 16M7-1345 chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Tại bản Cáo trạng số 89/CT-VKSLC ngày 15/05/2025 Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáo Nguyễn An B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Vào trưa ngày 12/11/2024 bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 15B1-825.24 của anh Nguyễn Quang V1 tại tầng hầm B1 tòa Camelia chung cư H phường K, quận L, thành phố Hải Phòng nhưng không nhớ đã thực hiện hành vi cụ thể như thế nào.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất của vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn An B mức án từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

4

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã có quan điểm về việc quá trình điều tra đã có lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Về hành vi Trộm cắp tài sản:

  1. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng không nhớ đã thực hiện hành vi cụ thể như thế nào. Tuy nhiên, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, hình ảnh camera thu giữ, nội dung bản cáo trạng, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào ngày 12/11/2024 tại khu vực tầng hầm B1 tòa C chung cư H phường K, quận L, thành phố Hải Phòng bị cáo Nguyễn An B đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát 15B1-825.24 trị giá 15.000.000đồng của anh Lê Quang V. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn An B phạm tội Trộm cắp tài sản vi phạm khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  2. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất trật tự trị an xã hội; về nhân thân bị cáo có 01 tiền sự chưa được xóa, qua đó cho thấy ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là kém. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội và đặc điểm nhân thân của bị cáo.

5

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

  1. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nhiệm hình sự

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

  1. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  2. Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

  1. Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Do bị cáo không nghề nghiệp, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

  1. Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét

- Về các vấn đề khác:

  1. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

  1. Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn An B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn An B 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2025.

6

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - UBND phường Đăng Giang, quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng;
  • - Công an phường Đăng Giang, quận Ngô Quyền, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 101/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn An Bình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger