Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK

Bản án số: 101/2025/HS-ST

Ngày 10-11-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Khương

2. Ông Lê Văn Tập

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: KIỀU VĂN LỰC.

Sinh ngày 28 tháng 4 năm 1972, tại: Thành phố Hà Nội.

Nơi thường trú: Buôn Ê, phường T, tỉnh Đắk Lắk.

Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Kiều Văn L (Đã chết), Con bà: Nguyễn Thị H (Đã chết). Bị cáo có vợ là bà Phạm Thị H1, sinh năm 1982 (Đã ly hôn) và 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2012.

Tiền án: 01 tiền án. Ngày 05/02/2021, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; tại Bản án số 60/HSST. Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C1. Ngày 16/01/2022, chấp hành xong và trở về địa phương sinh sống (chưa được xoá án tích).

Tiền sự: 01 tiền sự. Ngày 06/3/2023, Toà án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 22 tháng. Ngày 02/11/2024, chấp hành xong.

Nhân thân:

  • Ngày 25 tháng 01 năm 1995, Tòa án nhân dân huyện Thạch Thất, Tp. xét xử tuyên phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Gây rối trật tự công cộng (đã được xoá án tích).
  • Ngày 10 tháng 7 năm 2002, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử L2 về tội Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tổng hình phạt là 30 tháng tù giam. Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C1. Ngày 18/02/2024, chấp hành xong trở về địa phương sinh sống (đã xoá án tích).
  • Ngày 30 tháng 3 năm 2005, Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm xét xử tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản (Tại bản án số 01/HSST ngày 21/01/2005). Sau đó, bị cáo L2 kháng cáo. Tại bản án số 58/2005 ngày 30/3/2005, TAND tỉnh Đắk Lắk tuyên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo – giữ nguyên án sơ thẩm. Chấp hành án tại Trại giam Đ – Bộ C1. Ngày 04/7/2006, chấp hành xong trở về địa phương sinh sống (đã được xoá án tích).

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Bắt tạm giam từ ngày 27 tháng 8 năm 2025 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Phùng Thị Bích H2, sinh năm 1997 (Vắng mặt)

Nơi ĐKHKTT: Số A Q, phường B, tỉnh Đắk Lắk

Nơi ở hiện nay: Số A T, phường B, tỉnh Đắk Lắk

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1976 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Kiều Văn L2 là người có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, không có việc làm ổn định nên L2 nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiêu xài, cụ thể: Vào khoảng 16 giờ ngày 29/7/2025, bị cáo L2 một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, gắn biển số 48F3-2772, lưu thông đi trên tuyến đường T, phường B, tỉnh Đắk Lắk để tìm sơ hở của người dân quản lý tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, L2 đi đến tiệm T, địa chỉ: Số A T, phường B, tỉnh Đắk Lắk do chị Phùng Thị Bích H2 làm chủ. Thấy tiệm đang có nhiều khách đến mua thì L2 dựng xe mô tô trên ở ngoài đường rồi giả vờ đi vào bên trong cửa tiệm để hỏi mua đồ. Lúc này, chị H2 có để trên kệ tủ bánh mỳ phía trước cửa tiệm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu trắng, số Imei: 357300549858515, đã qua sử dụng. Lợi dụng trong lúc chị H2 đang bán hàng cho khách không để ý L2 đi đến dùng tay trái lấy trộm chiếc điện thoại nêu trên bỏ vào túi quần, rồi điều khiển xe mô tô đi đến nghĩa trang trên đường M, phường E, tỉnh Đắk Lắk cất giấu chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào một ngôi mộ ở đây rồi đi về nhà. Sau đó, chị H2 trích xuất C và gửi đơn trình báo đến Công an phường B. Đến ngày 01/8/2025 Công an phường B, tỉnh Đắk Lắk triệu tập Kiều Văn L2 về làm việc thì L2 khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp chiếc điện thoại của chị H2. Đồng thời, L2 tự nguyện chỉ vị trí nơi cất giấu chiếc điện thoại di động trộm cắp được nêu trên và giao nộp cho Công an phường B, tỉnh Đắk Lắk.

Kết luận định giá tài sản số 118/KL-HĐĐG ngày 14/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Đắk Lắk như sau: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu trắng, số Imei: 357300549858515, đã qua sử dụng, trị giá 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 766 ngày 03/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA (Sirius) màu sơn đen, mang biển số 60M3-8734 có bề mặt kim loại tại vị trí đóng số khung ở khung xe dưới yên xe và bề mặt kim loại tại vị trí đóng số máy bên trái thân máy đã bị mài mòn, tẩy xóa không tái hiện được số nguyên thủy.

Tại Kết luận giám định số 722 ngày 30/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Không đủ cơ sở kết luận biển số xe 48F3-2772 và biển số xe 60M3-8734 là thật hay giả (do không có mẫu so sánh).

Cáo trạng số 04/CT-VKS-HS ngày 14/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk truy tố bị cáo Kiều Văn L2 về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Kiều Văn L2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Kiều Văn L2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Kiều Văn L2 từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu trắng, số Imei: 357300549858515, đã qua sử dụng, là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Phùng Thị Bích H2 bị bị cáo Kiều Văn L2 chiếm đoạt vào ngày 29/7/2025. Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại tài sản trên cho chị Phùng Thị Bích H2 là chủ sở hữu hợp pháp, là phù hợp.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại SIRIUS, màu sơn đen, gắn biển số 60M3-6734, đều đã qua sử dụng. Vào tháng 02/2025, bị cáo L2 mua chiếc xe mô tô trên của 01 người thanh niên (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) và sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định truy nguyên số khung, số máy xe mô tô trên nhưng số khung, số máy đã bị mài mòn, tẩy xóa nên không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ và chưa làm việc được với chủ sở hữu xe mô tô trên nên tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 biển số 48F3- 2772, bị cáo L2 khai nhận nhặt được biển số xe trên ở ven đường (Không xác định được vị trí) và sử dụng biển số 48F3- 2772 để gắn vào xe mô tô trên thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã làm việc với chị Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1976, trú tại Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (là chủ xe đăng ký) và chị L1 khẳng định hiện biển số 48F3-2772 vẫn đang sử dụng gắn vào xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại C125, màu sơn xanh, trong quá trình sử dụng, chị L1 không làm hư hỏng hay làm rơi. Do đó cần tịch thu tiêu hủy đối với biển số 48F3-2772, là phù hợp.

Đối với 01 chiếc áo thun cổ bẻ được phối 04 màu trắng, vàng, nâu, xám, 01 Quần Tây, màu xám và 01 mũ bảo hiểm màu xanh, đều đã qua sử dụng, là trang phục, đồ vật của bị cáo L2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Kiều Văn L2 có ý muốn nhận lại các tài sản trên nên cần trả lại cho bị cáo L2, tuy nhiên cần tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

Về phần dân sự của vụ án: Sau khi nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, có đặc điểm nêu trên. Chị H2 không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề cập xử lý.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Do ý thức coi thường pháp luật, coi thường quyền sở hữu tài sản của người khác nên vào lúc 17 giờ 00 phút ngày 29/7/2025, tại A T, phường B, tỉnh Đắk Lắk, Kiều Văn L2 đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu trắng, với trị giá tài sản 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) của chị Phùng Thị Bích H2.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm bất hợp pháp đối với quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam tư lợi, lười biếng lao động, coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Đắk Lắk truy tố bị cáo Kiều Văn L2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả, tài sản đã thu hồi trả lại cho người bị hại. Do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 05/02/2021, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột xét xử tuyên phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 60/HSST. Ngày 16/01/2022, bị cáo chấp hành xong và trở về địa phương sinh sống nhưng chưa được xoá án tích. Do đó phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người nghiện ma túy và có nhân thân xấu.

Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu trắng, số I: 357300549858515 cho bà Phùng Thị Bích H2 là chủ sở hữu nhận quản lý sử dụng, là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Đối với 01 biển số 48F3- 2772, bị cáo Kiều Văn L2 khai nhận nhặt được biển số xe trên ở ven đường (Không xác định được vị trí) và sử dụng biển số 48F3- 2772 để gắn vào xe mô tô trên thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã làm việc với chị Huỳnh Thị Kim L1, sinh năm 1976, trú tại Thôn A, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng (là chủ xe đăng ký) và chị L1 khẳng định hiện biển số 48F3-2772 vẫn đang sử dụng gắn vào xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại C125, màu sơn xanh, trong quá trình sử dụng, chị L1 không làm hư hỏng hay làm rơi. Do đó cần tịch thu tiêu hủy đối với biển số 48F3-2772, là phù hợp.

Đối với 01 chiếc áo thun cổ bẻ được phối 04 màu trắng, vàng, nâu, xám, 01 Quần Tây, màu xám và 01 mũ bảo hiểm màu xanh, đều đã qua sử dụng, là trang phục, đồ vật của bị cáo L2 mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Kiều Văn L2 có ý muốn nhận lại các tài sản trên nên cần trả lại cho bị cáo L2 là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, có đặc điểm nêu trên. Chị H2 không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề cập xử lý.

[6] Về các nội dung khác:

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại SIRIUS, màu sơn đen, gắn biển số 60M3-6734, đều đã qua sử dụng. Vào tháng 02/2025, bị cáo L2 mua chiếc xe mô tô trên của 01 người thanh niên (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) và sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định truy nguyên số khung, số máy xe mô tô trên nhưng số khung, số máy đã bị mài mòn, tẩy xóa nên không xác định được số khung, số máy nguyên thuỷ và chưa làm việc được với chủ sở hữu xe mô tô trên nên tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, là phù hợp.

[7] Về án phí: Bị cáo Kiều Văn L2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Kiều Văn L2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Kiều Văn L2 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giam ngày 27/8/2025.

Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Đ đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Pro Max, màu trắng, số I: 357300549858515 cho bà Phùng Thị Bích H2 là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển số 48F3- 2772.

Trả lại cho bị cáo Kiều Văn L2 01 (Một) chiếc áo thun cổ bẻ được phối 04 màu trắng, vàng, nâu, xám, 01 Quần Tây, màu xám và 01 mũ bảo hiểm, màu xanh, đều đã qua sử dụng.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/10/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 – Đắk Lắk).

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Phùng Thị Bích H2 không yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Kiều Văn L2 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1-TANDTC;
  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND khu vực 1 – Đắk Lắk;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06);
  • - Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Thi hành án phạt tù (để thi hành);
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 101/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiều Văn L phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger