Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 101/2025/HS-ST

Ngày: 06-6 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Thi.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Lê Văn Công.

Ông Nguyễn Thanh Giàu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sao Mai – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2025/TLST-HS ngày 16/5/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2025/QĐXXST-HS ngày 23/5/2025 đối với các bị cáo:

1. Trương Minh T, sinh năm 1986 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: Tổ A, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Trương Văn C và bà Nguyễn Thị M; Có vợ Ngô Mỹ X; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2025 đến ngày 13/3/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 27/12/2021.

2. Nguyễn Minh L, sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; Nơi thường trú: 440 khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Nguyễn Văn K (đã chết) và bà Trương Thị B; Có vợ Lê Thị Vạn A và 01 người con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2025 đến ngày 13/3/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 13/4/2021.

3. Lê Ngọc S, sinh năm 1988 tại tỉnh Hậu Giang; Nơi thường trú: Ấp B, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; Nơi tạm trú: 5/20 khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Công nhân; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 08/12; Con ông Lê Văn Q và bà Võ Thị X1; Có vợ Võ Thị Ngọc D và 02 người con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2025 đến ngày 13/3/2025 thay thế biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 08/12/2021.

Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Lê Ngọc L1, sinh năm: 1988; Nơi thường trú: 538 đường H, tổ A, khu phố H, phường H, thành phố T. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Hồ Văn S1, bà Võ Thị B1. Đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 12/01/2025, ông Lê Ngọc L1 điều khiển xe ô tô biển số 61H-133.39 lưu thông trên đường B sau đó rẽ trái vào hướng đường H, khu phố H, phường H, thành phố T để đi về nhà của mình số 538, đường H, tổ A, khu phố H, phường H. Khi gần đến nhà, ông L1 bật xi nhan rồi rẽ trái để đi vào nhà thì cắt ngang trước đầu xe mô tô biển số 61G1-746.74 do Trương Minh T đang điều khiển chở Nguyễn Minh L lưu thông cùng chiều phía sau dẫn đến dễ va chạm với nhau, T điều khiển xe dừng sát bên trái xe ô tô của ông L1. Ông L1 xuống xe kiểm tra xem có va chạm không thì hai bên cãi nhau, L cho rằng ông L1 tạt đầu xe mình, ông L1 đi vào trong quán bán nước sát nhà của mình, T, L cũng đi bộ theo sau tiếp tục cự cãi, xô xát. T điện thoại cho Lê Ngọc S đến hỗ trợ giải quyết mâu thuẫn. Khoảng 05 phút sau, S điều khiển xe mô tô biển số 95B1-944.13 chạy đến dừng gần xe của T sau đó đi bộ tới chỗ L, T đang xô xát với ông L1. Khi đến nơi, S cầm 01 cục bê tông ném về hướng ông L1 nhưng không trúng, S tiếp tục cầm nón bảo hiểm đánh vào người ông L1, T dùng tay, chân, L dùng tay, chân và ghế ngồi (khung sắt, đan bằng dây nhựa màu đen-trắng) đánh làm ông L1 bị té ngã. Thấy có sự việc đánh nhau gây náo loạn, người dân xung quanh đến can ngăn nên L, S, T đi về, ông L1 được đưa đến Trung tâm y tế thành phố T, tỉnh Bình Dương để khám thương tích. Đến 08 giờ 00 phút cùng ngày S, L, T đến Công an phường H đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 63 ngày 24/01/2025 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh B xác định: Ông Lê Ngọc L1 bị các thương tích: Chấn thương đầu, đau vai trái đã lành; Vết thương cẳng tay trái 1,5x0,3cm, sẹo lành. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01%.

Cáo trạng số 94/CT-VKS-TA ngày 13/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo Trương Minh T, Nguyễn Minh L, Lê Ngọc S về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt các bị cáo: Trương Minh T, Nguyễn Minh L, Lê Ngọc S, mỗi bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 5 năm.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 ghế ngồi khung bằng sắt màu đen, đan dây nhựa màu đen - trắng; 01 mũ bảo hiểm màu đen có dòng chữ Everest bị bể phần nhựa phía sau mũ và 01 cục bê tông kích thước 09 x 09 x 07cm.

2. Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Theo đơn thì các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt bị truy tố, không thắc mắc hay khiếu nại gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Các bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt là tự nguyện, không trái pháp luật, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Lời khai nhận của các bị cáo Trương Minh T, Nguyễn Minh L, Lê Ngọc S trong hồ sơ phù hợp với nhau, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 12/01/2025, tại đoạn đường trước nhà số E đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, Trương Minh T, Nguyễn Minh L và Lê Ngọc S dùng tay, chân, ghế xếp, nón bảo hiểm, cục bê tông đuổi đánh ông Lê Ngọc Lam L2 ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm nhưng chỉ vì mâu thuẫn khi tham gia giao thông, các bị cáo sử dụng tay, chân và hung khí nguy hiểm để rượt đuổi, đánh người khác trên đường, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, hành vi đó xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh, hoạt động bình thường ở nơi công cộng, lỗi của các bị cáo là cố ý trực tiếp, do đó cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[6] Trong vụ án có vai trò đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, không có sự bàn bạc, phân công cụ thể, cùng thực hiện hành vi phạm tội nên vai trò ngang nhau.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Nhân thân tốt, nhất thời phạm tội, là người dân lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình; Vụ án xảy ra xuất phát do ông L1 lái xe không chú ý quan sát kỹ; Bị cáo T có ông nội và 02 bác là Liệt sỹ, bà nội được phong tặng Mẹ Việt Nam anh hùng là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[9] Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và hướng dẫn của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 (sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho các bị cáo hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.

[10] Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ.

[11] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát Điều tra thu giữ:

01 ghế ngồi khung bằng sắt màu đen, đan dây nhựa màu đen-trắng; 01 mũ bảo hiểm màu đen có dòng chữ Everest bị bể phần nhựa phía sau mũ và 01 cục bê tông kích thước 09 x 09 x 07cm là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

01 xe mô tô biển số 61G1-746.74 là tài sản của bị cáo T, 01 xe mô tô biển số 95B1-944.13 là tài sản của bị cáo S, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.

[12] Hành vi của các bị cáo gây thương tích với tỷ lệ thương tích 1% cho ông L1 nhưng ông L1 không yêu cầu xử lý, bồi thường gì nên không xem xét.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các Điều 46, 47, 58, 65 của của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • - Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo: Trương Minh T, Nguyễn Minh L, Lê Ngọc S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt các bị cáo:

1.1. Trương Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án 06/6/2025.

1.2. Nguyễn Minh L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án 06/6/2025.

1.3. Lê Ngọc S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm tính từ ngày tuyên án 06/6/2025.

Giao bị cáo Trương Minh T cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Giao các bị cáo Nguyễn Minh L và bị cáo Lê Ngọc S cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 ghế ngồi khung bằng sắt màu đen, đan dây nhựa màu đen-trắng; 01 mũ bảo hiểm màu đen có dòng chữ Everest bị bể phần nhựa phía sau mũ và 01 cục bê tông kích thước 09 x 09 x 07cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/5/2025 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An).

3. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND, CA, Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP Thuận An;
  • - Chánh án (để báo cáo);
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, THAHS, AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Thi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về gây rối trật tự công cộng (criminal case)

  • Số bản án: 101/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo: Trương Minh T, Nguyễn Minh L, Lê Ngọc S phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger