Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 101/2025/HS-PT

Ngày: 26-6-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

  • - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quản.

    Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Tuấn, bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 61/2024/TLPT-HS ngày 12 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Phan Quốc Q do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

  • - Bị cáo có kháng cáo: Phan Quốc Q, sinh năm 2000 tại Bình Thuận. Nơi sinh: tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú: thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Chỗ ở: thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: nam; cha: Phan Văn K, mẹ: Phạm Thị Thùy T; vợ: Phùng Thị Mỹ N. Bị cáo có 01 người con, sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không.

  • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/10/2024, đến ngày 23/01/2025 được thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.

  • Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • - Bị hại: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1979 (vắng mặt)

    Ông Phùng Văn H, sinh năm 1976 (có mặt)

    Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Quốc Q, thường trú tại thôn L, xã H, huyện H nhưng sống tại nhà cha mẹ vợ là ông Phùng Văn H và Lê Thị Đ, ở thôn C, xã H, huyện H. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, Phan Quốc Q chở con đi học rồi quay về nhà ông H. Lúc này, không có ai ở nhà, do cần tiền tiêu xài và trả nợ nên Q nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình ông H. Q đi vào phòng ngủ của Phùng Ngọc C, sinh năm 2007 (em vợ Q) mở tủ quần áo lục tìm tài sản. Khi kéo ngăn tủ ra thấy có số tiền 27.000.000 đồng; 02 bộ còng ximen, mỗi bộ gồm 07 chiếc còng; 01 chiếc nhẫn; 02 chiếc lắc (đều là vàng tây, loại 18k) đựng trong túi thổ cẩm bằng vải, Q lấy số tài sản trên để dưới cốp xe mô tô biển số 86B7-302.22 rồi điều khiển xe về nhà cha mẹ ruột ở thôn L, xã H, huyện H chơi. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô đem số vàng trộm được đến tiệm V, ở thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Thuận do bà Phan Thị Thanh X, sinh năm 1982, ở khu phố L, thị trấn L, huyện B làm chủ, bán được số tiền 58.000.000 đồng. Sau đó, Q mua lại 01 sợi dây chuyền; 01 chiếc lắc tay; 02 chiếc nhẫn; 01 chiếc còng và 01 đôi bông tai (đều là vàng tây, loại 18k) với tổng số tiền là 14.000.000 đồng. Số tiền 44.000.000 đồng bán vàng còn lại và 27.000.000 đồng tiền mặt, Quyền sử dụng nạp thẻ game và tiêu xài cá nhân hết.

Đến khoảng 06 giờ 15 phút ngày 10/10/2024, thấy trong nhà không có ai, Q tiếp tục đi vào phòng ngủ của C mở ngăn kéo tủ quần áo lục tìm tài sản. Thấy số tiền 197.500.000 đồng được bọc trong 01 tờ giấy, Q lấy số tiền trên đem về phòng ngủ của vợ chồng Q cất giấu trong túi áo khoác của Q. Sau đó, Q lấy số tiền 22.000.000 đồng từ số tiền 197.500.000 đồng rồi đi đến tiệm tạp hóa nhờ người bán tạp hóa (không rõ nhân thân) chuyển cho Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1992, ở thôn P, xã H, huyện H số tiền 15.000.000 đồng (để trả nợ 1.500.000đồng, số còn lại nhờ Tưởng giữ hộ), còn 7.000.000 đồng để trong túi quần của Q. Khoảng 08 giờ cùng ngày, bà Đ phát hiện mất tài sản nên báo sự việc cho Công an xã H. Khoảng 15 giờ cùng ngày, lo sợ hành vi trộm cắp bị phát hiện nên Q lấy số tiền 175.500.000 đồng còn lại bỏ vào túi nylon màu trắng ném qua cửa sổ gian nhà trước của bà Đ và nói với C: “đi vòng vòng tìm thử coi có bỏ lại không”. Sau đó, Q dẫn C đi tìm và phát hiện số tiền nằm trên nền đất cỏ. Công an xã H tiến hành xác minh, xác định Q là đối tượng trộm cắp tài sản nên đưa Q về trụ sở Công an xã để làm việc. Tại đây, Q khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐTS ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận:

02 bộ còng ximen, mỗi bộ gồm 07 chiếc còng; 01 chiếc nhẫn vàng; 02 chiếc lắc vàng, tất cả số vàng trên là vàng tây, loại vàng 18k, định giá ngày 08/10/2024, tổng giá trị tài sản là 57.997.500 đồng.

Về thu giữ vật chứng:

  • + Tạm giữ của Phan Quốc Q:

    • - Số tiền 175.500.000 đồng do Q ném qua cửa sổ và 2.950.000 đồng Quyền nộp để khắc phục hậu quả.

    • - 01 chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng, gắn chỉ màu đen, có mặt nhẫn hình bông hoa năm cánh đính đá màu trắng.

    • - 01 chiếc nhẫn bằng kim loại, màu vàng, có mặt nhẫn hình vuông bên trên có ghi chữ.

    • - 01 còng bằng kim loại, màu vàng, có ghi dòng chữ 3KM*610.TR, có mặt hoa văn được đính đá màu đỏ - xanh - trắng.

    • - 01 lắc tay bằng kim loại, màu vàng, kiểu mắt xích, một đầu khoá có ghi dòng chữ KM*610, đầu còn lại ghi dòng chữ KM*NT.

    • - 01 sợi dây chuyền bằng kim loại, màu vàng, kiểu mắt xích, đầu khoá có dòng chữ PNJ680R.

    • - 01 đôi bông tai bằng kim loại màu vàng.

  • + Bà Lê Thị Đ giao nộp số tiền 7.000.000 đồng trong túi quần của Phan Quốc Q.

  • + Phùng Thị Mỹ N (vợ Q) giao nộp 15.000.000 đồng rút ra từ tài khoản của Q.

Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại số tiền 200.450.000 đồng và số vàng trên cho bà Lê Thị Đ.

Đối với 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro, số máy: MGKG3LL/A, số seri: F17FK4TP0D80 tạm giữ của Phan Quốc Q. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc ra Quyết định xử lý vật chứng, chuyển từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Quốc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phan Quốc Q 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến ngày 23/01/2025;

Bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Ngày 31/3/2025, bị cáo Phan Quốc Q có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về vệc giải quyết vụ án: Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đã bồi thường cho bị hại 20.000.000đ, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bị hại tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo từ 03 – 06 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

  • [2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Quốc Q thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở để kết luận:

    Phan Quốc Q là con rể, chung sống cùng nhà cha mẹ vợ là ông Phùng Văn H và bà Lê Thị Đ. Vào ngày 08/10/2024, Phan Quốc Q đã lén lút trộm cắp của vợ chồng bà Đ 27.000.000 đồng tiền mặt và 02 bộ còng ximen, mỗi bộ gồm 07 chiếc còng; 01 chiếc nhẫn; 02 chiếc lắc (tất cả là vàng tây, loại vàng 18k), số vàng qua định giá là 57.997.500 đồng. Đến ngày 10/10/2024, Phan Quốc Q tiếp tục trộm 197.500.000 của vợ chồng bà Đ. Sau khi trộm được tài sản, Quyền trả nợ cho Tưởng 1.500.000đồng, 13.500.000 đồng Quyền nhờ Tưởng giữ hộ, 7.000.000 đồng Quyền cất giấu trong túi quần, còn lại 175.500.000 đồng, Quyền cất giấu trong phòng của vợ chồng Q, sau đó Quyền ném qua cửa sổ vì lo sợ bị phát hiện. Tổng giá trị tài sản Quyền trộm cắp là 282.497.500 đồng (gồm 224.500.000 đồng tiền mặt và số vàng qua định giá là 57.997.500 đồng).

    Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

  • [3] Xét kháng cáo của bị cáo Phan Quốc Q xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình xét xử sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện giao nộp tiền, vàng và đã bồi thường cho bị hại; được bị hại là cha mẹ vợ xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; có ông nội Phan Văn N1 là liệt sĩ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết này đã được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đã bồi thường số tiền 20.000.000đ cho bị hại. Xét thấy, đến nay toàn bộ thiệt hại đã được bồi thường, ông Phùng Văn H, bà Lê Thị Đ (là bị hại và cũng là cha mẹ vợ của bị cáo) có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên tòa phúc thẩm ông H trình bày sau khi xảy ra sự việc, bị cáo đã nhận thức rõ sai lầm, ăn năn hối cải, tu chí làm ăn để nuôi vợ con, ông H tha thiết xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử sẽ giảm một phần hình phạt cho bị cáo.

  • [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

  • [5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.

  • Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Quốc Q, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2025/HS-ST ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

Áp dụng: khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phan Quốc Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phan Quốc Q 03 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến ngày 23/01/2025.

  1. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/6/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKS, CA, TA, CC. THA cấp huyện;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - TỔ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HS-PT ngày 26/06/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận về hình sự phúc thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 101/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Quốc Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger