Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:101/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 13-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thụy

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tô Văn Nhung;

Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: ông Trần Hồng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 170/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 65/2025/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: bà Lê Thị L, sinh năm 1984; thường trú: tổ G, ấp B, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: ông Đinh Tiến H, sinh năm 1974; thường trú: 18, đường Đ, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị L và ông Đinh Tiến H có thời gian tìm hiểu nhau một thời gian, rồi tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Sau khi kết hôn vợ chồng ông bà sống với nhau hạnh phúc một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng ông bà bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay bà L xác định không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: quá trình chung sống ông bà có 03 con chung là cháu Đinh Lê Thanh N, sinh ngày 29/3/2006; Đinh Lê Thanh T, sinh ngày 31/01/2008 và Đinh Lê Thanh N1, sinh ngày 09/8/2015. Trong thời gian vợ chồng ly thân, các con chung sinh sống cùng với bà L. Bà L yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung sau ly hôn và không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Còn con chung là N đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Lê Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Đinh Tiến H:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải bằng thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng, đồng thời yêu cầu ông Đinh Tiến H có ý kiến trả lời bằng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L nhưng ông Đinh Tiến H không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ và vắng mặt không có lý do. Như vậy, việc giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem xét trên cơ sở chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Quá trình tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập bằng thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không chấp hành theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng với quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:

[1] Về tố tụng: theo kết quả xác minh ngày 16/4/2025 của Tòa án tại Công an phường B, thành phố D xác định bị đơn ông Đinh Tiến H có đăng ký thường trú tại: A, đường Đ, khu phố N, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương đã bỏ đi khỏi địa phương, khi đi không trình báo nên chính quyền địa phương không biết hiện ông H cư trú tại đâu. Đồng thời bà L cũng không biết địa chỉ hiện nay ông H đang sinh sống. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để triệu tập ông H về làm việc nhưng ông H vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc. Tòa án triệu tập ông H tham gia phiên tòa vào ngày 09/6/2025 và ngày 13/6/2025 nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do; bà L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông H và bà L theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị L và ông Đinh Tiến H là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào ngày 22/3/2005 theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/05 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Bà L xác định trong cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn cụ thể là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, vợ chồng ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Nay, bà L xác định không còn tình cảm với ông H nên yêu cầu ly hôn. Quá trình tố tụng, Tòa án triệu tập ông H đến Tòa án để hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng, có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà L và cung cấp chứng cứ liên quan đến vụ án nhưng ông H không đến. Điều này chứng tỏ bản thân ông H cũng không muốn vợ chồng có cơ hội để đoàn tụ với nhau, còn bà L xác định không còn tình cảm với ông H. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà L và ông H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà L yêu cầu ly hôn là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: quá trình chung sống bà L xác định vợ chồng có 03 con chung là cháu Đinh Lê Thanh N, sinh ngày 29/3/2006; Đinh Lê Thanh T, sinh ngày 31/01/2008 và Đinh Lê Thanh N1, sinh ngày 09/8/2015. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi phải bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng ông H không có ý kiến thể hiện nguyện vọng mong muốn nuôi con chung hay không, trong thời gian vợ chồng ly thân thì các con chung đều do bà L nuôi dưỡng và các cháu đều có nguyện vọng chung sống cùng với bà L. Cho nên, bà L yêu cầu trực tiếp nuôi các con chung Đinh Lê Thanh T và Đinh Lê Thanh N1 là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và Gia đình. Còn con chung là cháu Đinh Lê Thanh N đã trưởng thành, bà L không yêu cầu giải quyết.

[4] Về cấp dưỡng: bà Lê Thị L tự nguyện không yêu cầu ông Đinh Tiến H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Lê Thị L không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L. Ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về chi phí đăng thông báo: bà Lê Thị L tự nguyện chịu số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận, được khấu trừ hết vào số tiền đã nộp.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị L về việc ly hôn, nuôi con với ông Đinh Tiên H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị L được ly hôn với ông Đinh Tiến H (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 23, quyển số 01/05 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/3/2005).
    • - Về con chung: ông Đinh Tiến H có trách nhiệm giao con chung là cháu Đinh Lê Thanh T, sinh ngày 31/01/2008 và Đinh Lê Thanh N1, sinh ngày 09/8/2015 cho bà Lê Thị L tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Thị L không yêu cầu ông Đinh Tiến H cấp dưỡng nuôi con. Còn con chung là cháu Đinh Lê Thanh N, sinh ngày 29/3/2006 đã trưởng thành, đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
    • Sau ly hôn, ông Đinh Tiến H có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, bà Lê Thị L không có quyền cản trở ông Đinh Tiến H thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.
    • - Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: bà Lê Thị L không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Lê Thị L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn, được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0008055 ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Về chi phí đăng thông báo: bà Lê Thị L tự nguyện chịu số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng, được khấu trừ hết vào số tiền đã nộp.
  4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 101/2025/HNGĐ-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 101/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger