|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2025/DSST
Ngày: 30/9/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Bảo Huyền Trân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng
Ông Phạm Thuận
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Đức Lam Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2025/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2025 và thụ lý bổ sung số 120.1/2025/TLST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2025 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2025/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120/2025/QÐST-DS ngày 14 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q1 (V1); Địa chỉ: Tầng trệt và tầng B, Tòa nhà S, A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – chức vụ: Tổng Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn T, ông Trần Tiến L và ông Võ Văn T1 – Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1; cùng địa chỉ liên hệ: Số H - H đường N, phường C, thành phố Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền số 196978.24 ngày 18/9/2024 và Giấy ủy quyền số 225514.24 ngày 17/10/2024) (ông T2 có mặt).
- Bị đơn: Bà Trần Hữu Thị Duy Q, sinh năm: 1986; địa chỉ: Số D M, phường H, thành phố Đà Nẵng và ông Nguyễn Quốc K, sinh năm: 1972; địa chỉ: Tổ F, phường T, thành phố Đà Nẵng (ông K có mặt, bà Q vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau: Ngân hàng TMCP Q1 (V1) – V1 ký với bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K các Hợp đồng tín dụng (Hợp đồng) như sau: Hợp đồng tín dụng số 8783311.22 ngày 08/08/2022 với nội dung: Số tiền giải ngân: 179.900.000đ. Mục đích: Vay mua ô tô mới kinh doanh nhãn hiệu THACO TOWNER990, biển số 43H-025.88; Thời hạn vay: 60 tháng từ ngày tiếp theo ngày khoản tín dụng được giải ngân đến 11/08/2027; Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12.90%/năm. Lãi suất này sẽ được V1 chủ động điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.1%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc: Thời gian ân hạn: không. Sau thời gian ân hạn: hàng tháng vào ngày 12; kỳ trả đầu tiên: 12/09/2022; số tiền trả mỗi kỳ: 2.999.000đ; số còn lại trả vào cuối kỳ; Ngày trả lãi: hàng tháng, vào ngày 12; kỳ trả đầu tiên: 12/09/2022; Trả phí: theo quy định của V1 từng thời kỳ; Lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Ngày 05/07/2022 khách hàng Trần Hữu Thị Duy Q có Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế. Theo đó, V1 đã phát hành thẻ cho khách hàng Trần Hữu Thị Duy Q với hạn mức tín dụng là: 50.000.000đ, loại thẻ: Financial Free. Quá trình thực hiện hợp đồng bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Vì vậy, V1 đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 26/06/2023.
Tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay trên là: Xe ô tô nhãn hiệu: THACO, số loại: TOWNER990, biển kiểm soát: 43H-025.88, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43025615 do Phòng C công an thành phố Đ cấp ngày 26/07/2022 cho bà Trần Hữu Thị Duy Q. Từ những nội dung đã trình bày trên, Ngân hàng TMCP Q1 kính đề nghị Quý Tòa xem xét giải quyết những yêu cầu sau: Buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K phải thanh toán ngay cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm tính đến ngày 30/09/2025 là: 297.151.285đ, trong đó: Hợp đồng tín dụng số 8783311.22 ngày 08/08/2022: 209.826.467đ, cụ thể: Nợ gốc: 146.911.000đ, nợ lãi trong hạn: 18.627.531đ, nợ lãi quá hạn: 43.926.794đ, nợ lãi phạt: 361.142đ. Hợp đồng thẻ tín dụng (số thẻ: 000000000623367) ngày 05/07/2022: 87.324.818đ. Cụ thể: Nợ gốc: 47.765.706đ, nợ lãi: 38.961.112đ, nợ phí: 598.000đ. Theo Đơn khởi kiện, Ngân hàng khởi kiện với số tiền 94.721.468đ. Nay Ngân hàng yêu cầu khách hàng trả nợ số tiền 87.324.818đ, số tiền chênh lệch 7.396.650đ Ngân hàng xin rút. VIB được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn và phí phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã ký. Trong trường hợp bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q1 có quyền được yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi tài sản bảo đảm cụ thể là: Xe ô tô nhãn hiệu: THACO, số loại: TOWNER990, biển kiểm soát: 43H-025.88.
Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đã giao nộp toàn bộ tài liệu, chứng cứ có liên quan trong vụ án. Ngân hàng chưa gửi tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho bị đơn. Ngân hàng không bổ sung tài liệu, chứng cứ và không yêu cầu Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ; không yêu cầu Tòa án triệu tập đương sự khác, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa.
* Bị đơn ông Nguyễn Quốc K trình bày: Ông xác nhận có vay nợ và có thế chấp xe ô tô tại Ngân hàng TMCP Q1. Tuy nhiên, do hoàn cảnh gia đình tôi gặp nhiều khó khăn nên ông chưa thanh toán nợ vay theo đúng thỏa thuận. Do đó, hiện Ngân hàng khởi kiện ông và bà Q thanh toán tiền nợ vay thì ông đồng ý trả nợ nhưng đề nghị Ngân hàng G thời gian trả nợ cho ông.
* Bị đơn bà Trần Hữu Thị Duy Q: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản hồi.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng phát biểu:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 463, 466, 468 BLDS 2015; Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng, khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/09/2025 là: 297.151.285đ, trong đó: Hợp đồng tín dụng số 8783311.22 ngày 08/08/2022: 209.826.467đ, cụ thể: nợ gốc: 146.911.000đ, nợ lãi trong hạn: 18.627.531đ, nợ lãi quá hạn: 43.926.794đ, nợ lãi phạt: 361.142đ và Hợp đồng thẻ tín dụng (số thẻ: 000000000623367) ngày 05/07/2022: 87.324.818đ. Cụ thể: nợ gốc: 47.765.706đ, nợ lãi: 38.961.112đ, nợ phí: 598.000đ. VIB được tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn và phí phát sinh kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các Hợp đồng tín dụng (HĐTD) đã ký. Trường hợp bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì tài sản thế chấp sẽ được xử lý theo Điều 299 và Điều 303 Bộ luật dân sự. Đình chỉ yêu cầu Ngân hàng đã rút. Bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đây là vụ án dân sự về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Đà Nẵng theo khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bà Trần Hữu Thị Duy Q có hộ khẩu thường trú tại: số D Mẹ T, phường H, thành phố Đà Nẵng, hiện nay đã bán nhà đi khỏi địa phương. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, trường hợp của bà Trần Hữu Thị Duy Q được coi là cố tình giấu địa chỉ, do đó Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đà Nẵng tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
[1.3] Tại phiên tòa, bị đơn bà Trần Hữu Thị Duy Q vắng mặt. Tòa án đã đăng thông báo trên B ba số liên tiếp vào các ngày 03/9/2025; 04/9/2025 và ngày 05/9/2025; Công báo trên Đài truyền hình Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng phát vào lúc 06 giờ 45 vào các ngày 29/8/2025; 30/8/2025 và ngày 31/8/2025. Tòa án cũng đã niêm yết giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên toà tại nơi cư trú trước đây của bà Q và chính quyền địa phương phường H, TP Đà Nẵng, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 theo quy định của pháp luật, nhưng tại phiên tòa bà Q vẫn vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 xét xử vắng mặt bà Trần Hữu Thị Duy Q theo quy định của pháp luật.
[2] Về việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện:
Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng khởi kiện bà Q trả nợ theo hợp đồng thẻ tín dụng với số tiền 94.721.468đ. Tại phiên tòa, nguyên đơn rút một phần yêu cầu đối với số tiền gốc là 7.396.650đ, chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc tạm tính tới thời điểm 30/09/2025 là 87.324.818đ. Xét thấy, việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu mà nguyên đơn đã rút.
[3] Về nội dung:
Ngày 08/08/2022, Ngân hàng TMCP Q1 (V1) ký với bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K các Hợp đồng tín dụng (Hợp đồng) như sau: Hợp đồng tín dụng số 8783311.22 với nội dung: Số tiền giải ngân: 179.900.000đ; mục đích: Vay mua ô tô mới kinh doanh nhãn hiệu THACO TOWNER990, biển số 43H-025.88 và ngày 05/07/2022 bà Trần Hữu Thị Duy Q có đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế. Theo đó, V1 đã phát hành thẻ cho bà Trần Hữu Thị Duy Q với hạn mức tín dụng là: 50.000.000đ, loại thẻ: Financial Free. Tính đến ngày 30/9/2025, ông K và bà Q nợ Ngân hàng tổng số tiền là 297.151.285đ trong đó:
- - Đối với hợp đồng tín dụng số 8783311.22 ngày 08/08/2022 với tổng số tiền: 209.826.467đ, cụ thể: nợ gốc: 146.911.000đ, nợ lãi trong hạn: 18.627.531đ, nợ lãi quá hạn: 43.926.794đ, nợ lãi phạt: 361.142đ.
- - Đối với hợp đồng thẻ tín dụng (số thẻ: 000000000623367) ngày 05/07/2022: 87.324.818đ. cụ thể: nợ gốc: 47.765.706đ, nợ lãi: 38.961.112đ, nợ phí: 598.000đ.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, ông K và bà Q đã thế chấp 01 xe ô tô nhãn hiệu: THACOsố loại: TOWNER990, biển kiểm soát: 43H-025.88 theo Hợp đồng thế chấp số 1055263.22 ngày 08/8/2022.
[4] Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu:
Ngân hàng TMCP Q1 yêu cầu bị đơn bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nêu trên và tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi tất toán khoản vay. Đồng thời yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết các hợp đồng tín dụng và các thủ tục vay vốn tại Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, V1 đã giải ngân cho bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 87833111.22 ngày 11/08/2022 với số tiền 179.900.000đ theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng. Ngân hàng đã giải ngân đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký, ông N và bà H đã nhận đủ số tiền vay. Bà Q và ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh, V1 đã chuyển khoản vay thành khoản nợ quá hạn từ ngày 26/06/2023. Như vậy, bà Q và ông K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q1 là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự; Điều 90, Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng buộc bà Q và ông K phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2025 là: 297.151.285đ.
[5] Về tài sản thế chấp:
Xét, Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1055263.22 ngày 08/08/2022đã được công chứng tại Văn phòng C1, Thành phố Đà Nẵng số công chứng: 2531, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD. Tài sản thế chấp để đảm bảo cho các khoản vay trên là: Xe ô tô nhãn hiệu: THACOsố loại: TOWNER990, biển kiểm soát: 43H-025.88, Số máy: K1 48AM00211815 Số khung: RNHA22TJANT057136, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43025615 do Phòng C công an thành phố Đ cấp ngày 26/07/2022 cho bà Trần Hữu Thị Duy Q. Tài sản này được thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1055263.22 ngày 08/08/2022đã được đăng ký thế chấp theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng ngày 11/8/2022.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa VIB với bên thế chấp là bà Q và ông K hoàn toàn tự nguyện, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, mặt khác trong hợp đồng thế chấp đã nêu rõ nội dung hợp đồng thế chấp và phạm vi bảo đảm là bên thế chấp tự nguyện thế chấp toàn bộ tài sản thuộc quyền sử dụng và quyền sở hữu của mình để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ vay bao gồm: nợ gốc, lãi tiền vay trong hạn và các chi phí phát sinh liên quan của số tiền vay theo Hợp đồng giữa Ngân hàng và các bên.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên đủ căn cứ xác định, hợp đồng thế chấp phát sinh hiệu lực đối với các bên. Vì vậy, trường hợp bà Q và ông K không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì VIB có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự phát mại tài sản thế chấp mà các bên đã ký kết để thu hồi nợ là phù hợp quy định tại các Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bà Q và ông K thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì VIB phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận đăng kí xe ô tô cho bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
[6] Về án phí DSST:
Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên bị đơn bà Q và ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa, bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K phải chịu án phí trên số tiền phải trả 297.151.285đ x 5% = 14.857.564₫
Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp.
[7] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
số tiền 3.000.000đ, bà Q và ông K phải chịu nhưng Ngân hàng TMCP Q1 đã nộp tạm ứng và đã chi nên bà Q và ông K có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng).
[8] Về chi phí tố tụng:
Chi phí đăng tin, phát sóng thông báo tìm kiếm người vắng mặt là 9.300.000đ, Ngân hàng TMCP Q1 đã nộp tạm ứng và đã chi nên bà Q và ông K có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 9.300.000đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ các Điều 463, Điều 464, Điều 465, Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ban hành ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP Q1 đối với bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K.
Tuyên xử:
- Buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 tổng số tiền tạm tính ngày 30/9/2025: 297.151.285đ (Hai trăm chín mươi bảy triệu, một trăm năm mươi mốt nghìn, hai trăm tám mươi lăm đồng),Cụ thể:
- Trả cho hợp đồng tín dụng số 8783311.22 ngày 08/08/2022 với tổng số tiền: 209.826.467đ, cụ thể: nợ gốc: 146.911.000đ, nợ lãi trong hạn: 18.627.531đ, nợ lãi quá hạn: 43.926.794đ, nợ lãi phạt: 361.142đ.
- Trả cho hợp đồng thẻ tín dụng (số thẻ: 000000000623367) của bà Trần Hữu Thị Duy Q ngày 05/07/2022: 87.324.818đ, cụ thể: nợ gốc: 47.765.706đ, nợ lãi: 38.961.112đ, nợ phí: 598.000đ.
- Kể từ ngày 01/10/2025 cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 8783311.22 ngày 08/08/2022 và hợp đồng thẻ tín dụng (số thẻ: 000000000623367) ngày 05/07/2022.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K không thanh toán khoản nợ theo các hợp đồng nói trên thì tài sản bảo đảm là: Xe ô tô nhãn hiệu: THACOsố loại: TOWNER990, biển kiểm soát: 43H-025.88, Số máy: K1 48AM00211815 Số khung: RNHA22TJANT057136, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43025615 do Phòng C công an thành phố Đ cấp ngày 26/07/2022 cho bà Trần Hữu Thị Duy Q. Tài sản này được thế chấp tại V1 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1055263.22 ngày 08/08/2022được đăng ký thế chấp theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Đà Nẵng ngày 11/8/2022 và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1055263.22 ngày 08/08/2022đã được công chứng tại Văn phòng C1, Thành phố Đà Nẵng số công chứng: 2531, quyển số 01/2022 TP/CC-SCC/HĐGD được xử lý theo quy định tại Điều 299 và Điều 303 Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP Q1 phải làm các thủ tục xóa thế chấp và trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 43025615 do Phòng C công an thành phố Đ cấp ngày 26/07/2022 (Cà vẹt xe đứng tên Trần Hữu Thị Duy Q) theo quy định tại Điều 322 Bộ luật dân sự.
- Đình chỉ giải quyết yêu cầu đối với số tiền 7.396.650đ do nguyên đơn rút yêu cầu.
- Án phí dân sự sơ thẩm: 14.857.564đ (Mười bốn triệu, tám trăm năm mươi bảy nghìn, năm trăm sáu mươi bốn đồng) bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K phải chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền tạm ứng án phí 6.672.503đ ( Sáu triệu, sáu trăm bảy mươi hai nghìn, năm trăm lẻ ba đồng) theo biên lai thu số 0004740 ngày 11 tháng 11 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Đà Nẵng).
- Về chi phí tố tụng:
- Buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định là 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
- Buộc bà Trần Hữu Thị Duy Q, ông Nguyễn Quốc K có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền chi phí đăng tin, phát sóng thông báo tìm kiếm người vắng mặt là 9.300.000đ (Chín triệu ba trăm ngàn đồng).
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, ông Nguyễn Quốc K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Bảo Huyền Trân |
Bản án số 101/2025/DSST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 101/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q và các bị đơn là bà Trần Hữu Thị Duy Q và ông Nguyễn Quốc K
