|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 101/2025/DSST
Ngày: 03 - 6 - 2025
V/v "Tranh chấp
hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Luyến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Rành;
- Bà Trương Thị Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phuong – là Thư ký Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân Quận G, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 142/2025/TLST-DS ngày 21/01/2025 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 121/2025/QĐST- DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ Phần S; Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê N, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 4476/2024/UQ-TGĐ ngày 07/6/2024) (Có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số I H, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn tại đơn khởi kiện ngày 18/7/2024, trong quá trình giải quyết và xét xử vụ án có ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (viết tắt là nguyên đơn) có ký kết với bà Nguyễn Thị Thu T (viết tắt là bị đơn) thỏa thuận sau:
Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 25112019/TTD/PGDTT ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (các tài liệu này gọi chung là hợp đồng tín dụng), phê duyệt ngày 25/11/2019, với nội dung: căn cứ thu nhập của bà T, nguyên đơn đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 32.000.000 (Ba mươi hai triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân; Loại thẻ tín dụng: Visa Ladies First; Lãi suất trong hạn là: 2.6%/tháng và lãi quá hạn là 3.9%/ tháng.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Nguyễn Thị Thu T đã thực hiện các giao dịch từ tháng 12/2019 đến tháng 12/2022 với tổng số tiền là 61.498.506 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Nguyễn Thị Thu T đã thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 39.575.671đồng. Kể từ ngày 22/7/2022, bà Nguyễn Thị Thu T không tiếp tục thanh toán dư nợ thẻ tín dụng đã sử dụng cho nguyên đơn.
Nguyên đơn đã nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Thị Thu T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên ngày 23/01/2021 nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu với số tiền 34.541.795 đồng sang nợ quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (= lãi suất trong hạn 2.6%/tháng x 150%) sang nợ quá hạn, theo Điều 23 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Việc bà Nguyễn Thị Thu T vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện yêu cầu buộc bị đơn trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 03/6/2025 là 92.195.422 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 29.311.195 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 62.833.627 đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, kể từ ngày 04/6/2025, bà Nguyễn Thị Thu T còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh cho đến khi bà T trả hết nợ gốc theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phê duyệt ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S do ông Thân Lê N là người đại diện theo ủy quyền có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Về phía bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận G đã nhiều lần triệu tập bà T đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng bà T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Quận G:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự đúng theo quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn đã vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hợp đồng tín dụng đã ký thì thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật. Do bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú của bị đơn là số I H, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo địa chỉ được bị đơn ghi trong giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và các văn bản khác với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đều thể hiện bị đơn có địa chỉ là số I H, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường P, Quận G tại Phiếu yêu cầu xác minh số 36/2025/PXM ngày 02/5/2025 của Tòa án nhân dân Quận G thì đương sự Nguyễn Thị Thu T không thực tế cư trú tại số I H, Khu phố B, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì vậy, trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn. Nay bị đơn vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
[1.2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và bị đơn cư trú tại Quận G nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.4] Đối với bị đơn là trường hợp được coi là cố tình giấu địa chỉ, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[1.5] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Thân Lê N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.6] Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ xem xét giải quyết khi đương sự có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu.
[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì bị đơn đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vốn và lãi tính đến ngày 03/6/2025 là 92.195.422 đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 29.311.195 đồng và số tiền nợ lãi quá hạn là 62.833.627 đồng. Yêu cầu trả làm một lần sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày 04/6/2025, bị đơn vẫn phải trả nợ lãi theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phê duyệt ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi trả hết nợ gốc.
Hội đồng xét xử xét thấy:
[3.1] Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phê duyệt ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần S có cho bà Nguyễn Thị Thu T mở thẻ tín dụng, hạn mức thẻ là 32.000.000 đồng.
Các văn bản tín dụng nêu trên được nguyên đơn và bị đơn cùng ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, người tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng, văn bản tín tụng này có hiệu lực pháp lý, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ, nguyên đơn và bị đơn phải có trách nhiệm thực hiện các thỏa thuận đã cam kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T đã sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 61.498.506 đồng, trong quá trình sử dụng thẻ, bà Nguyễn Thị Thu T đã thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền là 39.575.671 đồng.
[3.2] Do bà Nguyễn Thị Thu T vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) Thương mại Cổ phần S là bên có lỗi. Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn là phù hợp với quy định của pháp luật và thỏa thuận của hai bên. Do đó, yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn phải trả tổng số tiền là 92.195.422 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 29.311.195 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 62.833.627 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 04/6/2025 theo mức lãi suất quá hạn đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phê duyệt ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S cho đến khi trả hết nợ gốc là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng nên có cơ sở chấp nhận.
[4] Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5; Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 68; Khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Khoản 1, Khoản 2 Điều 228; Điều 266; Điều 273 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí, lệ phí và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
1.1. Buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tổng số tiền nợ thẻ tín dụng tính đến ngày 03/6/2025 theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phê duyệt ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S là 92.195.422 (Chín mươi hai triệu một trăm chín mươi lăm ngàn bốn trăm hai mươi hai) đồng, trong đó: số tiền nợ gốc là 29.311.195 (Hai mươi chín triệu ba trăm mười một ngàn một trăm chín mươi lăm) đồng, số tiền nợ lãi quá hạn là 62.833.627 (Sáu mươi hai triệu tám trăm ba mươi ba ngàn sáu trăm hai mươi bảy) đồng. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong nợ gốc, bà Nguyễn Thị Thu T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền gốc còn phải thi hành án, theo mức lãi suất quá hạn mà các bên thỏa thuận theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng phê duyệt ngày 25/11/2019 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
1.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 4.609.771 (Bốn triệu sáu trăm lẻ chín ngàn bảy trăm bảy mươi mốt) đồng, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.957.177 (Một triệu chín trăm năm mươi bảy ngàn một trăm bảy mươi bảy) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0037386 ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
3. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị Luyến |
Bản án số 101/2025/DSST ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 101/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN G - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP S khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với Nguyễn Thị Thu T
