|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 101/2025/DS - ST Ngày 28 tháng 11 năm 2025 V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Biên.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
* Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Sen – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh.
* Đại diện VKSND khu vực 1- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh H – Kiểm sát viên .
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 453/2025/TLST-DS ngày 15/10/2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 812025/QĐXXST-DS, ngày 03/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1970 (Có mặt)
Cư trú: Số D, ngách A, ngõ D đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1980 (Có mặt)
Cư trú: Số A, ngõ A đường L, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 08/10/2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Bùi Thị M trình bày:
Năm 2021, anh Nguyễn Hữu T có hỏi vay chị tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân. Do có mối quan hệ quen biết, cùng công tác tại Bệnh viện Y nên chị tin tưởng và đồng ý cho anh T vay. Cụ thể như sau:
Ngày 02/04/2021, chị giao cho anh T vay số tiền 30.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng.
Ngày 28/05/2021, chị giao cho anh T vay số tiền 20.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng.
Ngày 14/06/2021, chị giao cho anh T vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất là 1%/tháng.
Ngày 15/06/2021, chị giao cho anh T vay số tiền 20.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng.
Ngày 04/01/2022, chị giao cho anh T vay số tiền 50.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng.
Ngày 22/05/2023, chị giao cho anh T vay số tiền 40.000.000đồng, lãi suất là 1,2%/tháng.
Tổng số tiền chị đã cho anh T vay là 180.000.000 đồng.
Mỗi lần vay đều có giấy vay tiền viết tay, có chữ ký xác nhận của anh Nguyễn Hữu T, thể hiện rõ số tiền, ngày vay và lãi suất thỏa thuận.
Đến đầu tháng 07/2025, chị đã nhiều lần yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng anh T luôn trì hoãn, hứa hẹn sẽ trả trong thời gian tới. Tuy nhiên, cho đến nay, anh T vẫn chưa thực hiện bất kỳ khoản thanh toán nào. Việc kéo dài tình trạng không trả tiền thể hiện sự vi phạm nghĩa vụ của bên vay, đồng thời gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị.
Nay chị yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Hữu T trả chị số tiền gốc còn nợ là 180.000.000 đồng. Chị chỉ yêu cầu lãi suất 0,83%/tháng, kể từ ngày 05/10/2025 đến ngày hôm nay 28/11/2025 tính tròn thời gian trả lãi là 55 ngày, cụ thể 180.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 55 ngày tính lãi = 2.739.000 đồng tiền lãi.
Số tiền đã thành toán lãi trước đây thì chị không yêu cầu. Chồng chị là Lê Văn N đã chết và không tham gia giao dịch vay tiền, không liên quan tài sản chung vợ chồng. Chị Tô Thị L vợ anh Nguyễn Hữu T không tham gia giao dịch vay tiền nên đề nghị không đưa tham gia tố tụng.
Ngoài ra chị không có tranh chấp, không có yêu cầu hoặc đề nghị gì khác.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/10/2025 và các lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Hữu T trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết, cùng công tác tại Bệnh viện Y nên năm 2021, anh có hỏi vay chị Bùi Thị M tiền để sử dụng vào mục đích cá nhân, cụ thể:
Ngày 02/04/2021, anh có ký nhận vay tiền với số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất là 1%/tháng. Anh có viết phần họ tên, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, còn chị M viết số tiền vay, lãi suất vay và thời hạn đòi tiền gốc.
Ngày 28/05/2021, anh có ký nhận vay tiền với số tiền 20.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng. Anh có viết phần họ tên, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, số tiền vay, lãi suất vay và thời hạn đòi tiền gốc.
Ngày 14/06/2021, anh có ký nhận vay tiền với số tiền 20.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng. Anh có viết phần họ tên, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, còn chị M viết số tiền vay, lãi suất vay và thời hạn đòi tiền gốc.
Ngày 15/06/2021, anh có ký nhận vay tiền với số tiền 20.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng. Anh có viết phần họ tên, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, còn chị M viết số tiền vay, lãi suất vay và thời hạn đòi tiền gốc.
Ngày 04/01/2022, anh có ký nhận vay tiền với số tiền 50.000.000đồng, lãi suất là 1%/tháng. Anh có viết phần họ tên, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, số tiền vay, lãi suất vay và thời hạn đòi tiền gốc.
Ngày 22/05/2023, anh có ký nhận vay tiền với số tiền 40.000.000đồng, lãi suất là 1,2%/tháng. Anh có viết phần họ tên, số chứng minh nhân dân, số điện thoại, còn chị M viết số tiền vay, lãi suất vay và thời hạn đòi tiền gốc.
Tổng số tiền anh đã vay là 180.000.000đồng.
Mỗi lần vay trên thì anh đều có ký nhận vay tiền trong giấy vay tiền viết tay, chị Bùi Thị M ký nhận bên cho vay tiền
Hàng tháng anh đều trả chị M tiền lãi. Số tiền lãi anh đã trả thì anh không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì.
Nay anh đồng ý trả cho chị M số tiền gốc là 180.000.000đồng. Anh không đồng ý trả tiền lãi cho chị M.
Chị Tô Thị L vợ anh không tham gia giao dịch vay tiền nên đề nghị không đưa tham gia tố tụng.
Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng các đương sự không thống nhất việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Các đương sự không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án.
Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật, ông H1 không chấp hành quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng: Các Điều 26, Điều 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, để xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị M. Buộc anh Nguyễn Hữu T phải trả cho chị Bùi Thị M tổng số tiền gốc là 180.000.000 đồng và tiền lãi là 2.739.000 đồng.
Về án phí: Ông T phải chịu 9.137.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngoài các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì các đương sự không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm nên phải chịu hậu quả pháp lý.
[3] Về quan hệ pháp luật: Nay chị Bùi Thị M kiện đòi anh Nguyễn Hữu T trả tổng khoản tiền vay gốc 180.000.000 đồng tại các giấy vay tiền ghi các ngày 02/04/2021, ngày 28/05/2021, ngày 14/06/2021, ngày 15/06/2021, ngày 04/01/2022, ngày 22/05/2023 dương lịch. Đây là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản, có kỳ hạn và có lãi suất".
[4] Về thời hiệu khởi kiện:
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 02/04/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tuần;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 28/05/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 14/06/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 15/06/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 04/01/2022 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 22/05/2023 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 1,2%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tuần;
Theo phía nguyên đơn M đã đòi nợ anh trung nhiều lần nhưng không trả tiền gốc, tiền lãi đã trả xong đến 04/10/2025. Đến ngày 08/10/2025 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện. Các bên không yêu cầu áp dụng thời hiệu nên HĐXX không áp dụng thời hiệu khởi kiện đòi tiền gốc, lãi theo Điều 184 BLTTDS; Điều 155, Điều 429 BLDS.
[5] Căn cứ khởi kiện của phía nguyên đơn là các:
Giấy vay tiền ngày 02/04/2021 dương lịch có chữ ký bên cho vay là chị Bùi Thị M và chữ ký bên vay là anh Nguyễn Hữu T; Giấy vay tiền ngày 28/05/2021 dương lịch có chữ ký bên cho vay là chị Bùi Thị M và chữ ký bên vay là anh Nguyễn Hữu T; Giấy vay tiền ngày 14/06/2021 dương lịch có chữ ký bên cho vay là chị Bùi Thị M và chữ ký bên vay là anh Nguyễn Hữu T; Giấy vay tiền ngày 15/06/2021 dương lịch có chữ ký bên cho vay là chị Bùi Thị M và chữ ký bên vay là anh Nguyễn Hữu T; Giấy vay tiền ngày 04/01/2022 dương lịch có chữ ký bên cho vay là chị Bùi Thị M và chữ ký bên vay là anh Nguyễn Hữu T; Giấy vay tiền ngày 22/05/2023 dương lịch có chữ ký bên cho vay là chị Bùi Thị M và chữ ký bên vay là anh Nguyễn Hữu T.
[6] Về nghĩa vụ trả nợ:
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 02/04/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tuần;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 28/05/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 14/06/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 15/06/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 04/01/2022 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 22/05/2023 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 1,2%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tuần;
Đến nay chị M đòi những khoản tiền vay gốc này thì anh Nguyễn Hữu T chưa trả là phù hợp lời khai của những người cho vay và sự thừa nhận của người vay là anh Nguyễn Hữu T về việc chưa trả các khoản tiền vay gốc này.
Căn cứ vào lời khai trình bày của chị Bùi Thị M là người cho vay và thừa nhận của người vay là anh Nguyễn Hữu T và chứng cứ có trong hồ sơ nên có căn cứ xác định: Anh Nguyễn Hữu Trung trực T1 vay tiền của chị Bùi Thị M và vay tiền sử dụng vào việc cá nhân mà không dùng vào việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình hoặc phát triển kinh tế gia đình. Mặt khác, chị Tô Thị L cũng xác định: chồng chị là anh Nguyễn Hữu T tự vay tiền chị Bùi thị M dùng vào việc cá nhân, bản thân chị L cũng không tham gia vay tiền, anh T dùng tiền vay vào việc cá nhân, không mua sắm hay tiêu dùng, sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Nên có căn cứ buộc anh Nguyễn Hữu T trả nợ cho chị Bùi Thị M như phía nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[7] Về lãi suất của số tiền vay gốc:
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 02/04/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tuần;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 28/05/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 14/06/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 15/06/2021 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 04/01/2022 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 50.000.000 đồng, lãi suất 1%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tháng;
Anh Nguyễn Hữu T ký nhận giấy vay tiền ngày 22/05/2023 dương lịch của chị Bùi Thị M với số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 1,2%, lấy hàng tháng, khi nào cần gốc báo trước 01 tuần;
Căn cứ vào lời khai của chị Bùi Thị M, phù hợp với lời khai của anh Nguyễn Hữu T nên có căn cứ xác định anh Nguyễn Hữu T đã thanh toán tiền lãi cho chị Bùi Thị M của các mã vay trên từ ngày vay đến ngày 04/10/2025. Chị Bùi Thị M, anh Nguyễn Hữu T đều xác định số tiền lãi đã thanh toán đến ngày 04/10/2025 thì không có tranh chấp hoặc yêu cầu đề nghị gì. Đây là ý chí tự nguyện, không trái pháp luật và thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự nên không đặt ra xem xét số tiền lãi đã thanh toán đến ngày 04/10/2025.
Nay chị Bùi Thị M chỉ yêu cầu tính lãi suất 0,83%/tháng, kể từ ngày 05/10/2025 đến ngày hôm nay 28/11/2025 tính tròn thời gian trả lãi là 55 ngày, cụ thể 180.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 55 ngày tính lãi = 2.739.000 đồng tiền lãi. Đây là ý chí tự nguyện, không trái pháp luật và thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự và phù hợp với khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC, khoản 2 Điều 470 BLDS và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nên được chấp nhận.
[8] Các đương sự xác định chồng chị Bùi Thị M đã chết, chị Tô Thị L là vợ anh Nguyễn Hữu T không liên quan đến giao dịch, tài sản chung nên không đưa tham gia tố tụng là đúng.
[9] Do các bên không thỏa thuận được về lãi suất sau khi bản án có liệu lực pháp luật nên cần áp dụng Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Anh Nguyễn Hữu T phải chịu án phí DSST do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Điều 194, Điều 463, Điều 466, khoản 02 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 184, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 02 Điều 5 Nghị quyết số: 01/2019/NQ- HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán TANDTC; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị M.
- Buộc anh Nguyễn Hữu T có nghĩa vụ trả chị Bùi Thị M tổng số tiền là: 182.739.000đồng (Trong đó: 180.000.000 đồng gốc, 2.739.000 đồng lãi).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí: Buộc anh Nguyễn Hữu T phải chịu 9.136.950 đồng án phí DSST.
Chị Bùi Thị M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả lại cho chị Bùi Thị M 4.641.000đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: 00018164 ngày 15/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Nguyễn Ánh Dương |
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Ninh,
- - VKSND khu vực 1- Bắc Ninh,
- - Phòng THADS khu vực 1- Bắc Ninh,
- - Các đương sự,
- - Lưu hs.
Bản án số 101/2025/DS - ST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 101/2025/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị M kiện hợp đồng vay tài sản
